search
frame
WGMdesigner

Tên Tuổi Các Lão Võ Sư Trong Làng Võ Việt Nam

Đăng bởi: hoanggia 03-10-2015   : Tên Tuổi Các Lão Võ Sư Trong Làng Võ Việt Nam"   :6613

CÁC VỊ VÕ SƯ LÃO THÀNH ĐÁNG KỂ


Năm 1850 – 1974: Thầy Cử Nhân Võ Triệu Thúc Lang, về sau ở quận Dương Đông, đảo Phú Quốc. (Thầy sống 124 tuổi).

Năm 1870 – 1958: Thầy Võ Dựt, hiệu là Năm Nghĩa, người ở làng An Dinh, quận Bình Khê.

Năm 1880 – 19 ??: Thầy Cử nhân Võ Trương Trạch, ở Bình Định.

Năm 1880 – 196?: Thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định.

Năm 1880 – 196? : Thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) ở Qui Nhơn.

Năm 1880 – 197? : Võ sư Năm Soai, ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước.
Năm 1885 – 196? : Các vị võ sư Sáu Khá, Tư Cống, Hai Sình, người ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước

Năm 1889 – 1928: Thầy Lê Văn Bái, hiệu là Hàn Bái, thân phụ của ông là một võ tướng, chức Lãnh Binh của triều đình Huế. Oâng thất lộc vào mùng 6 tháng 3 âm lịch, năm 1928. Oâng đã đào tạo được một số cao đồ như: Nguyễn Văn Đắc, ông Quỳnh, ông Giãn, Viêu Khang và Vũ Bá Oai. Về sau, chỉ có võ sư Vũ Bá Oai làm rạng rỡ cho môn phái, và đã rèn luyện được một số học trò đáng kể như: Đỗ Dư Ánh, bác sĩ Nguyễn Anh Tài, Trương Minh Lắm ở Bến Tre, và Lê Bất Trị ở Tây Ninh... Năm 1950, võ sư Vũ Bá Oai đã thành lập Hàn Bái Đường tại Sài Gòn.




Năm 1890 – 197? : Thầy Hồ Nhu, hiệu là Hồ Ngạnh, làng Thượng Truyền, quận Bình Khê, giỏi về côn pháp.

Các Thầy Đoàn Phong, và thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê, giỏi về quyền cước.

Võ Sư Quách Văn Kế, giỏi về quyền cước, là sáng tổ của môn phái Lam Sơn Võ Thuật Đạo, sau khi cụ qua đời, con trai là võ sư Quách Văn Phước kế nhiệm chức Chưởng Môn võ phái.

Thầy Bảy Nếp, người quận Cần Đước, nam Việt Nam, về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Võ sư Chính Hóa là sáng tổ của võ phái Tây Sơn Nhạn, về sau, học trò lớn của cụ là võ sư Kim Kê (Đặng Văn Anh) kế nhiệm chức vụ Chưởng môn võ phái, và võ sư Nguyễn Văn Mách là phó chưởng môn.

Năm 1897 – 197 ? : Thầy Trương Thanh Đăng, hiệu là Sa Long Cương, người ở Phan Thiết. Năm 1925, bắt đầu dạy võ ở Phan Thiết. Năm 1930, dạy võ tại Sài Gòn. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Sa Long Cương tại Sài Gòn. Lúc 14 tuổi, ông theo học võ với thầy Trương Trạch, một cử nhân võ thời bấy giờ tại Bình Định, sau đó với thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định, và thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) tại Qui Nhơn.

Năm 1896 – 197? : Võ Sư Hồ Văn Hợi, năm 1969, sáng lập Hội Cửu Long Võ Đạo tại Sài Gòn (do nghị định 165/PDUTNTT/TDTT, ngày 16/2/1970) với hội đồng quản trị như: Chủ tịch Trần Văn Thoàn, Chưởng Lý Tối Cao Pháp Viện, các phó Chủ Tịch: Kỹ sư Trần Văn Hà, giáo sư Phạm Thành Mãi, Tổng thư ký: Nghị sĩ Lê Tấn Bửu, thủ quỹ: Nghị sĩ Võ Văn Truyện, các ủy viên: kỹ sư Huỳnh Văn Diệp, thương gia Trần Văn Chiêu và võ sư Phùng Văn Chính.

Năm 1900 – sống: Võ sư Đoàn Tâm Ảnh, pháp dah Thiện Tâm Thiền Sư, phương danh Nguyễn Văn Sáu (Sáu Nhỏ) hiện nay 2001 ông vẫn còn sống tại Việt Nam. Ông sanh tại Bạc Liêu, nam Việt Nam. Năm 1911, ôn theo thầy Mộc Đức Thiền Sư học đạo Thiền Tông và võ lâm cổ truyền, tại chùa Phi Lai Tự (miền Bắc Trung Hoa). Năm 1930, trở về Việt Nam, ông sáng lập môn phái võ lâm Việt Nam Chính Tông. Lần lượt, mở các võ đường tại các tỉnh miền Nam Việt Nam như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Cần Thơ, Bến Tre, Long Xuyên, Vĩnh Long, Rạch Giá... Rồi, bí mật thành lập đảng Sao Trắng, kết nạp các nghĩa sĩ để chống Pháp, và đã một thời oanh liệt, đảng Sao Trắng của ông đã làm điên đảo, bối rối cho các tay cường hào ác bá cùng chính quyền Pháp ở miền lục tỉnh (Hậu Giang, miền Nam). Về sau ông lên Sài Gòn mở các lớp dạy võ lâm. Trong suốt cuộc đời truyền dạy võ lâm, ông đã đào tạo rất đông đảo huấn luyện viên và võ sư rải rác từ Sài Gòn đến các tình miền nam, Việt Nam. Trong số các cao đồ đắc ý nhất của ông, và đã làm rạng rỡ cho môn phái võ lâm đáng kể đến như: Giáo sư Hàng Thanh (Phan Chấn Thanh), giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền), giáo sư Hùng Phong (Huỳnh Ninh Sơn), giáo sư Nam Phong (Nguyễn Thiên Tài), giáo sư Lạc Hà (Nguyễn Văn Bé), giáo sư Từ Võ Hạnh, giáo sư Lư Công Khanh, võ sư Long và võ sư Châu (ở Cần Thơ) ...

Đến năm 1970, ông chánh thức chấm định giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) là người được ủy nhiệm thừa kế chức vụ Chưởng Môn võ phái, để thay thế ông trong việc phát triển môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông. Sau đó, để tìm nguồn an lạc tại chốn thiền môn, ông đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa (Sài Gòn).

Từ năm 1970 đến 4/1975, giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) đã thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Võ Lâm Việt Nam Chính Tông tại địa điểm: Chi Thanh Niên Quận Sáu, Chợ Lớn (140 Lê Quang Hiền, Chợ Lớn). Trong thời gian tại Việt Nam, giáo sư Vũ Đức đã đào tạo được một số đông đảo võ sinh. Những Đai Đen Huấn Luyện Viên đáng kể như: Hồng Long, Châu Việt Hùng, Trần Văn Quang, Lê Văn Phước, Lê Kiến Sanh, Trần Văn Hoàng, Nguyễn Văn Bình, Trương Sắc Hào...

Sau 4/1975, môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông đã được chánh thức sửa tên gọi là Võ Lâm Đạo Việt Nam, với sự chuẩn nhận của sáng tổ Thiện Tâm Đoàn Tâm Ảnh và Chưởng Môn giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền).

Để thống nhất đường lối hoạt động của các võ đường chi nhánh Võ Lân Đạo ở trong nước Việt Nam và hải ngoại, võ phái còn được sự chỉ đạo trung ương của Tổng Hội Thế giới Võ Lâm Đạo Việt Nam (VoLamDao Vietnam Kungfu World Federation), chủ tịch hội đồng do Chưởng Môn Giáo Sư Vũ Đức phụ trách, trụ sở đặt tại miền nam California, Hoa Kỳ (hộp thư liên lạc: PO Box 6204, Rosemead, CALIF. 91770 – 1634, USA).

Tổng Hội Thế Giới Võ Lâm Đạo Việt Nam đã được giáo sư Vũ Đức chánh thức thành lập, với giấy phép của chính quyền tiểu bang California, USA, cấp ngày 07/07/1982.

Năm 1910 – 198?: Võ sư Huỳnh Kim Hên, hiện là Mã Thanh Long, sanh tại tỉnh Bạc Liêu. Thuở nhỏ, từ 9 đến 19 tuổi, đã theo học võ với người bác ruột hiệu là Mã Thanh Khôn, thuộc võ phái Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. Năm 1936, ông bắt đầu dạy võ cho quân đội Hoàng Gia Cao Miên, tại Nam Vang. Đến năm 1957, ông chánh thức thành lập võ đường Mã Thanh Long, tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Trong cuộc đời dạy võ, ôn đã đào tạo rất nhiều huấn luyện viên, và võ sĩ danh tiếng chiến thắng trên võ đài.

Năm 1917 – 198?: Võ Sư Lê Văn Kiển, hiệu là Tám Kiển, người ở Sóc Trăng, tỉnh Ba Xuyên, man Việt Nam. Lúc 12 tuổi, học võ với thân phụ, được chú ý về môn bắn cung. Về sau ông được học võ với nhiều vị lão sư có trình độ võ học cao về lý thuyết lẫn thực hành. Ông đã thành lập võ phái Nam Tông. Năm 1950, ông có lớp dạy võ tại sân vận động Phan Đình Phùng (Sài Gòn). Năm 1961, ông dạy võ tại Trung tâm Sinh Hoạt Thanh Niên /Chợ Lớn (Khu Đại Thế Giới cũ) và tại sân vận động Cộng Hòa, đường Nguyễn Kim, Chợ Lớn. Năm 1969, ông được đắc cử Chủ Tịch, tổng hội Võ Học Việt Nam. Nam 1970, ông đã xuất bản sách võ "Thập Bát Liên Châu".

Năm 1920 – sống: Võ sư Lê Sáng, sanh tại Hà Nội (gốc ở Thanh Hóa), theo học võ từ năm 1939 đến 4/1960 với võ sư Nguyễn Lộc, sáng tổ của môn phái VoViNam (gọi tắt của Võ Việt Nam). Trước khi qua đời (vào ngày 4/4/1960), võ sư Nguyễn Lộc đã ủy nhiệm lại cho võ sư Lê Sáng chức vụ Chưởng môn lãnh đạo võ phái VOVINAM . Về sau, võ sư Lê Sáng đã phát triển một hệ thống võ đường trên toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Tổng Cục Huấn Luyện trung ương tại đường Sư Vạn Hạnh, Chợ Lớn. Trải qua nhiều thăng trầm với thời cuộc, môn phái VoViNam đã thật sự bành trướng mạnh mẽ, sâu rộng trong quảng đại quần chúng Việt Nam.

Năm 1917 – 199?: Võ sư Mai Văn Phát, pháp danh Thích Thiện Tánh, sinh tại xã Thuận Hưng, Thốt Nốt, Long Xuyên. Năm 1929, lên Thất Sơn thụ giáo với ông Huỳnh Trí Đức về võ thuật và thiền tông. Năm 1936, tại Cần Thơ, được gặp võ sư Hai Thêm, đưa về Trung Hoa để truyền dạy võ thuật Thiếu Lâm. Năm 1942, hồi hương Việt Nam. Năm 1943, dạy võ tại Châu Đốc. Năm 1956, lên Sài Gòn trụ trì tại chùa Long Hoa. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Trung Sơn, tại số 53/22 Trần Khánh Dư, Tân Định (ngang hồ tắm Cộng Hòa cũ). Năm 1971, võ sư đắc cử Chủ Tịch, Tổng Hội Võ Học Việt Nam.

Năm 1908 – 198?: Võ Sư Trần Phú Đáng, sinh tại quận Diên Bàng, tỉnh Quảng Nam. Ông bắt đầu học võ vào lúc 20 tuổi (1928). Sau 5 năm luyện võ, lần đầu tiên, ông đã chiến thắng trận đấu võ đài được tổ chức tại hội chợ tỉnh Hội An vào năm 1933. Sau đó mỗi 2 năm, các trận đấu võ đài tại hội chợ của các tỉnh (Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam), ông đều có tham dự đấu, có trận thắng hoặc hòa, chưa có bị thất bại. Năm 1954, ông mở ph*ng tập dạy võ tại Đà Nẵng, về sau, chánh thức thành lập võ đường Trần Hưng Đạo (tại số 50 đường Hàm Nghi, Đà Nẵng). Ông đã đào tạo rất nhiều võ sinh, huấn luyện viên, đáng kể là hai cao đồ Đặng Ngọc Sách và Nguyễn Văn Vĩnh đã mở hai võ đường riêng, có đông đảo võ sinh trong thành phố Đà Nẵng, vào năm 1970 – 71.

Năm 1910 – 198?: Võ sư Bảy Hý (tên thật Lê Công Trứ), sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Lúc 14 tuổi, theo học võ với vị thầy võ tại Duy Xuyên. Về sau, được thụ giáo với võ sư Hiệp Vân, một hiệp sĩ nổi danh vào năm 1930. Ông đã chiến thắng oanh liệt các trận đấu võ đài tại các tỉnh Hội An, Thu Bồn, Đà Nẵng, vào lúc tuổi thanh niên. Trước 1970, ông thành lập võ đường Lê Huấn, tại Đà Nẵng.

Tại Đà Nẵng, đồng thời với võ sư Bảy Hý, còn có các võ sư lão thành như:

-Võ sư Hồ Phước là chú của Hồ Cưu (nhà vô địch tại điạ phương 1940)

Võ sư Phan Vũ Túc với võ đường Hòa Quang Phái (kiêm Đông y sĩ, Vạn Hưng Đường) tại số 34 đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Oâng rất kỹ lưỡng trong việc thu nhận học trò.

Võ sư Trương Khả có tính tình rất vui vẻ, rất tận tâm, sốt sắng trong việc dạy dỗ học trò. Vào thời Pháp, ông đã tham gia vào quân đội lính Lê Dương của Pháp và được xuất ngoại rất nhiều nơi như: Pháp, Ý. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại xã Thanh Khê 3, ngoại ô Đà Nẵng.

Võ sư Đặng Văn Vàng với Võ Đường Việt Nam, tại số 132/902 đường Trần Cao Vân, An Cư 3, Đà Nẵng.

Võ sư Năm Sẻ (tên là Trần Tử Hiếu) với võ đường Nguyễn Trung Trực, tại khóm Hòa Bình, Liên Gia 75, xã Hòa Phát, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Lưu Thanh Bình với võ đường Lê Trung Hậu, tại xã Hòa Khánh, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Nguyễn Lự với võ đường Cao Thắng, tại Liên Gia 34, thôn An Hòa, Xã Hòa Phát, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Võ sư Tấn Hoành với võ đường thành lập trước 1970, tại ấp Từ Quang, Từ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Võ sư Lâm Võ, tên thật là Lâm Hiến Giới, sinh năm 1910, tại Tây Hồ, Phúc Kiến, tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa). Thân phụ của ông tên là Lâm Hùng Sơn thuộc môn phái Thiếu Lâm Tự. Năm 1945, ông sang sinh sống ở Việt Nam. Về sau, ông dừng chân tại đất Quảng Ngãi, vui sống tuổi về già. Trước năm 1970, ông đã mở võ đường tại ấp Phú Hòa, Tàu Tương (gần cầu sông Trà Khúc), tỉnh Quảng Ngãi. Oâng đã đào tạo được rất nhiều môn đồ võ công xuất sắc.

Võ sư Thanh Long kiêm Đông y sĩ, với võ đường thành lập trước 1970 tại số 96/10 đường Hoàng Diệu, tỉnh Pleiku.

Võ sư Lãng (đã qua đời trong biến cố tết Mậu Thân, 1968) thuộc Nga Mi phái, ông đã có lớp dạy võ tại sân vận động Tự Do, Huế.

Võ sư Nhuận với võ đường ở Bãi Dâu (chợ Dinh) Huế.

Võ sư Minh với võ đường ở đường Lê Lợi, Huế.

Võ sư Lê Văn Tường*, dạy võ Thiếu Lâm và Bình Định, trước năm 1970 với võ đường Đại Hải, nằm bên quốc lộ 1, Nha Trang.

Võ sư Võ Châu Long, thuộc phái Bình Định và Thiếu Lâm Nam phái, đã từng là nhà vô địch tại Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị. Oâng nổi tiếng gan lì trong nhiều trận đấu võ đài từ Trung vào Nam. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại đường Nguyễn Thái Học (gần lò heo) Nha Trang.

Võ sư Kim Sang dạy võ quyền Tự Do vào năm 1970 với võ đường Kim Sang tại số 30 đường Đồng Nai, sau về số 3, Lê Lai, Nha Trang. 

ST 

Tin cùng chuyên mục

Giới thiệu

BinhdinhFFC, nơi bình luận bóng đá, văn hóa nghệ thuật, đất nước con người Bình Định. BinhdinhFFC, nơi chia sẻ gửi gắm những kỷ niệm tới những người Bình Định xa quê, chia sẻ những tấm lòng nhân ái đến những người nghèo khổ...

Liên hệ

Ban Quản Trị BinhDinhFFC.com

Email:admin@binhdinhffc.com

Số Lượt truy cập :

Số người online :

© 2004 - 2015. BinhDinhFFC.com . Thiết kế bởi: WGM Designer Group