Núi non

Mà Đông là biển cả.
Ba mặt Nam Tây Bắc là ba dãy non xanh nối nhau lại thành hình một chiếc ngai rồng vĩ đại.

Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:23 am

Bình Định núi non trùng trùng, điệp điệp, và thuộc hệ thống dãy Trường Sơn.

Dãy Trường Sơn chẳng khác một cây đại thọ nằm vắt ngang ở mặt phía Tây, và nứt ra nhiều nhánh nhiều nhóc, lớp chạy thẳng xuống Đông, lớp chạy xiên xiên vô Đông Nam, lớp chạy lài lài ra Đông Bắc. Khi khởi khi phục. Khởi thì núi non bàn khác. Phục thì gò đống hoặc lúp xúp, hoặc ngổn ngang, hoặc lơ thơ, hoặc trơ trọi… Lắm khi bị gián đoạn hoặc vì sông suối, hoặc vì ruộng nương. Nên hình thể khi thấp khi cao, khi đứt khi nối… Nối thôi lại đứt, thấp rồi lại cao… nghĩa là luôn luôn thay đổi, khiến khách du lãm nhìn thấy mới mẻ luôn luôn.

Sơn hệ tuy chia, nhưng nhánh nhóc nhiều khi lẫn lộn. Muốn phân biệt rành mạch núi nào gò nào thuộc nhánh nào, cụm nào thuộc khóm nào theo mạch nào, thì thật là khó.

Cho nên chỉ tạm chia một cách đại khái.

* Các dãy núi

Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến cuối Quảng Ngãi đầu Bình Định thì tách ra một nhánh lớn chạy từ Tây xuống Đông, quanh co khúc khuỷu, chất ngất nghênh ngang. Khi gần đến biển thì núi chạy vào Nam cho đến cửa Tam Quan.

Nhánh này tạm gọi là dãy Thạch Tân, tục gọi là Bến Đá.

Vì trong dãy có ngọn núi Thạch Tân nổi danh.

Núi nổi danh là nhờ có di tích lịch sử:

Năm Tân Dậu (1801) Trần Quang Diệu đương vây thành Quy Nhơn, nghe tin kinh thành Phú Xuân bị uy hiếp, liền sai tướng là Trần Văn Chiêu đem quân ra cứu. Trần Văn Chiêu ra đến Thạch Tân, bị quân của Lê Văn Duyệt ở Quảng Nam kéo ra chận đường, phải rút lui. Cũng năm ấy, Tống Viết Phước đem quân đến giải vây cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bị khốn trong thành Quy Nhơn. Trần Quang Diệu chận đánh tại Bức Cốc. Tống Viết Phước tử trận, hài cốt được đem mai táng tại chân núi Thạch Tân. Đến khi Gia Long lên ngôi liền truy tặng tước Quận công và lập miếu thờ bên mộ.

Dãy Thạch Tân là ranh giới thiên nhiên của Quảng Ngãi và Bình Định. Núi non chia hẳn hai tỉnh ra làm đôi. Nhờ đèo Bình Đê mở nẻo lưu thông cho Nam Bắc.

Đèo Bình Đê trước kia gọi là đèo Thạch Tân. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) mới đổi tên trạm Thạch Tân ra trạm Bình Đê, nhân đó người ta cũng thấy tên trạm mà gọi đèo. Tuy vậy tên tục "đèo Bến Đá" vẫn còn giữ mãi.

Ngày xưa, người Bình Định, ngoài việc đi lính và đi làm quan, ít ai ra khỏi đèo Bến Đá. Cho nên người địa phương có câu:

Trung quân vương bến Đá trở ra
Hiếu phụ mẫu Bồ Đề trở lại

(Bồ Đề ở Tài Lương, Hoài Nhơn, có chợ có quán, bán buôn thạnh vượng)

Qua khỏi dãy Thạch Tân, vào địa phận Bình Định, Trường Sơn lại chia ra nhiều nhánh nữa. Để cho dễ kêu dễ nhớ, tạm mượn những vùng núi mà nhánh tách ra để đặt tên.

Vậy kế dãy Thạch Tân, là dãy An Lão.

Núi chạy từ vùng An Lão xuống Hoài Nhơn. Nhưng nửa chừng thì phục xuống thành bình cương (gò nổng) và bình dương (đồng bằng). Đến thôn An Giũ lại đột khởi thành núi, núi này gọi là Hương Sơn.

Gọi là Hương Sơn, vì xưa kia núi có nhiều cây dáng hương. Dưới chân núi phía Nam, có bàu nước sâu rộng. Dưới triều nhà Nguyễn, chánh quyền đốn cây dáng hương để cất kho tại lưng núi, tích trữ tiền thuế lúa, thuế trong hạt và lúa nghĩa thương của làng. Do đó núi có tên nữa là Núi Kho. Và cũng do việc cất kho này mà cây trên núi bị đốn hết.

Việc chuyên chở thường dùng voi. Voi nuôi từng bầy hàng ngày đến bàu uống nước và tắm. Vì vậy mà bàu mang tên BàuTượng.

Bàu Tượng nay đã lấp thành một nhánh sông nhỏ chảy vào sông Lại xuống cửa An Giũ. Và kho lương hiện vẫn còn di chỉ.

Núi Kho không cao (224 thước) nhưng có danh, vì có di tích lịch sử và nhất là nhờ vị trí: Đứng chênh vênh giữa khoảng đồng rộng trời cao: dân cư đông đúc, thì ai lại không "biết mặt biết tên".

Trong dãy có nhiều ngọn cao, khí thế rất hùng. Phần nhiều ở xa khuất, được nhiều người biết đến là núi Phước Đính (600 thước), lùn nhưng ngang ngửa, trông bệ vệ, uy nghi, chung quanh có nhiều núi nhỏ vây bọc, và ở trước mặt về phía đông có Hòn Đền (381 thước) ở hướng Bắc, Hòn Dốc Dội (461 thước) ở giữa, và hòn Đồng Bò tên chữ là Độc Dã Sơn ở phía Nam, cũng là những ngọn núi được nhiều người để ý.

Đứng tại An Giũ trông lên chúng ta thấy ba ngọn Hòn Đền, Dốc Dội, Đồng Bò là bộ Tam Sơn để trước bức bình phong là hòn Phước Đính. Còn Hòn Kho là chiếc lư nhỏ để trước án thờ.

Những ngọn núi kể trên, đi ngang qua Hoài Sơn đều trông thấy. Những ngọn núi cao, như Núi Cheu (952 thước), Nước Teup (963 thước), Nước Non (967 thước)… trừ đồng bào sinh sống ở vùng cao ra, ít người lên đến chân đến đỉnh.

Trong dãy An Lão còn nhiều ngọn núi cao, càng lên trên càng cao ngất, nhiều ngọn trên 1.000 thước, song không nổi tiếng vì ở xa.

Dãy An Lão nằm phía Bắc ngạn sông Lại. Ở phía Nam ngạn, song song cùng dãy An Lão, Kim Sơn là tên vùng.

Gọi Kim Sơn vì vùng này có vàng. Vàng có ít. Người trong vùng thường đãi cát lấy vàng, nhưng làm lụng suốt ngày, số vàng bán chỉ đủ tiền công nhật.

Truyền rằng dưới triều Hậu Lê, vàng ở Kim Sơn đã góp một phần lớn trong công việc đúc người vàng để cống hiến Trung Quốc. Nhưng từ khi Nguyễn-Trịnh phân tranh, vàng tự nhiên cạn gần hết, chỉ còn cho người địa phương đủ dùng hàng ngày.

Vùng Kim Sơn thuộc địa phận Hoài Ân.

Núi trong dãy Kim Sơn, cũng như trong dãy An Lão, khi chưa xuống Hoài Nhơn, thì liên tiếp nhau không dứt, và cao chớm chở. Thế rất hiểm, khí rất hùng.

Có danh nhất là hòn Tổng Dinh.

Đó là mật khu của nghĩa quân Cần Vương ngày trước.

Nghĩa quân Cần Vương tỉnh Bình Định do anh hùng Mai Xuân Thưởng chỉ huy. Chia làm hai trấn, coi hai mặt. Mai Xuân Thưởng trấn phía Nam. Tăng Bạt Hổ trấn phía Bắc và đóng Tổng hành dinh tại núi này. Vì vậy núi mệnh danh là hòn Tổng Dinh.

Phía Nam hòn Tổng Dinh (hoặc Tổng Doanh) có hòn Trà Vinh, nghĩa quân cất kho tích trữ lương thảo. Do đó núi có tên nữa là Núi Kho (hay núi Đồng Kho).

Hòn Tổng Dinh và hòn Trà Vinh không cao lắm (495 thước và 428 thước) nhưng chung quanh có núi làm thành, có khe suối làm trì. Rõ là một cõi "trở sơn đái hà" có cái thế "bách nhị". Nhờ vậy mà quân của bọn Việt gian tay sai thực dân Pháp là Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc, mặc dù binh đông đúc và vũ khí tối tân, vẫn không thể lên tới. Nhưng sau khi đại bại trận Bàu Sấu, anh hùng Mai Xuân Thưởng tuẫn quốc, thì nghĩa quân ở mật khu Tổng Dinh cô thế, phải giải tán. Tăng Bạt Hổ xuất ngoại, rồi sau này cùng Phan Sào Nam hướng dẫn phong trào Đông Du.

Đi ngang qua Bình Định, nhìn thấy hòn Dinh hòn Kho cùng các hòn phụ bậc ẩn hiện trong bóng mây màu khói, những người biết rõ lịch sử cận đại, đố ai khỏi xúc mối cảm hoài. Cổ Bàn Nhân, gần đây đến viếng Hoài Ân, có mấy vần điếu cổ:

Mây chiều quấn quít Hòn Dinh
Nhớ Tăng Tổng trấn hết tình cứu dân.
Non sông chưa sạch bợn trần
Nắng mưa bao quản tấm thân quê người.
Tre tàn còn có măng tươi
Gương xưa còn tỏ còn người soi sương.


Đó là những danh sơn trong huyện Hoài Ân.

Dãy Kim Sơn, khi xuống đến Hoài Nhơn thì chia ra làm thành hai nhánh. Một nhánh chạy dọc theo tả ngạn sông Lại. Một nhánh chạy bẹt vô Phù Mỹ.

Nhánh chạy xuống tạm gọi là nhánh Hoài Nhơn. Nhánh chạy vô tạm gọi là nhánh Phù Mỹ.

Nhánh Hoài Nhơn không cao và thường bị đồng bằng làm gián đoạn.

Nhưng khi qua khỏi vùng núi Lại Khánh, thì núi lại nổi lên chất ngất và bao trùm hàng trăm dặm vuông. Mặt Bắc ngó xuống sông Lại quanh co lóng lánh. Mặt Đông sát biển cả, mây nước thương mang. Mặt Nam nhìn cánh đồng Phù Mỹ mênh mông và đầm Trà Ổ lai láng.

Đó là núi Bích Khê.

Trong núi có nhiều ngọn. Cao nhất là hòn Chớp Chài (653 thước) và hòn Cao (620 thước) đứng song song. Chớp Chài phía Nam, Hòn Cao phía Bắc, ngó xuống biển Đông. Ở phía Bắc hòn Cao, sát mé biển có hòn Hóc Mít tuy thấp (294 thước), nhưng có danh, vì giữa Hóc Mít và Hòn Cao có đường đèo nối Kim Giao (phía Bắc) và Lộ Giao (phía Nam) là hai nơi trù phú trong vùng. Những khách hàng hải khi cần củi nước... đều ghé vào Lộ Giao. Nên có câu:

Non xanh suối biếc đẹp ghê
Muốn cần nước củi, ta về Lộ Giao


Đèo Lộ Giao, Kim Giao ở phía Tây, hòn Hóc Mít ở phía Đông, sát biển, còn một đèo nữa chạy từ Lộ Giao ra Diêu Quan, tục gọi là Đường Gành. Trên non dưới nước, phong cảnh thật là thanh kỳ. Nơi gành phía đông lại có một kẽ đá rộng lớn. Đứng trên đèo ngó xuống thấy nơi vách kẽ, phía Bắc, một người đá cưỡi con ngựa đá đương phi. Kích thước bằng người ngựa thiệt, dáng điệu rất linh động, trông như sống. Vật thiên nhiên mà in như là tác phẩm của một nhà điêu khắc dày công khổ tứ. Rõ là một kỳ quan.

Phía Nam Lộ Giao còn một đèo thứ ba nữa, chạy vào Phú Thứ thuộc Phù Mỹ.

Thế là Giao Lộ ở giữa hai ngả đèo. Nhờ những đèo ấy mà đường giao thông ở phía biển khỏi bị gián đoạn vì núi Bích Kê.

Hình thế núi Bích Kê rất hiểm yếu.

Năm Quí Tỵ (1773), tướng chúa Nguyễn là Tôn Thất Hương, đem ba chục ngàn quân vào đánh nhà Tây Sơn. Đến Bích Kê, phục binh của Tây Sơn do hai tướng Trung Hoa là Tập Đình và Lý Tài chỉ huy chận đánh. Tôn Thất Hương bị tử trận. Quân Tây Sơn thừa thắng kéo thẳng ra đánh lấy Quảng Nghĩa rồi Quảng Nam.

Năm Nhâm Tuất (1802), Lê Văn Duyệt và Lê Chất chiếm cứ được núi này, rồi đánh vào thành Quy Nhơn. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị chận đường rút lui về Bắc phải đem tượng binh theo đường núi qua Lào ra Nghệ An.

Xem thế thì biết Bích Kê hiểm yếu bao nhiêu!
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:29 am

Giữa Bích Kê và Lại Khánh có Đèo Phủ Cũ. Quốc lộ số 1 chạy trên đèo này.

Đèo mang danh là Phủ Cũ là vì lỵ sở của phủ Hoài Nhơn xưa kia đóng ở Lại Khánh, trên dãy đồi ở cạnh đèo. Hiện vẫn còn đền cũ.

Dưới chân đèo ở phía Nam có dốc Tam Tượng mà vùng chung quanh nổi tiếng về Chè. Ca dao Bình Định có câu:

Anh đi Tam Tượng hái chè,
Bỏ cây ớt chín sau hè chim ăn.

Còn nhánh Phù Mỹ từ Đèo Phủ Cũ chạy xiên xiên vào Đông Nam, đến gần địa đầu huyện Phù Cát thì quày ra Bắc cho đến gần đầm Trà Ổ.

Đứng ngoài biển trông vào thì nhánh Phù Mỹ hợp với nhánh Hoài Nhơn thành một tòa nhà chữ Môn vĩ đại, mà cánh đồng Phù Mỹ là sân và đầm Trà Ổ là hồ nuôi cá.

Trong nhánh Phù Mỹ có nhiều núi cao và có danh, như:

Tượng Đầu Sơn, tục gọi là núi Đầu Tượng (461 thước), ở gần dốc Tam Tượng. Tên do hình núi mà đặt. Chung quanh núi non la liệt. Cảnh trí hùng dũng.

Kế đến Chân Chàng Sơn (cũng có tên nữa là Phan Sơn), ở phía Nam núi Đầu Tượng. Hình núi giống như cây chàng phan, tức cây phước, của nhà Chùa. Tục gọi là núi Cột Cờ đứng sừng sững làm trấn sơn trong huyện (339 thước).

Phía Tây Bắc núi Cột Cờ có núi Màn Lăng, đỉnh cao xanh, sườn vừa dài vừa rộng. Nổi tiếng về cọp. Do đó núi có tên nữa là Hổ Sơn.

Núi Màn Lăng làm ranh giới giữa Hoài Ân và Phù Mỹ. Mở lối giao thông cho hai huyện có đường đèo gọi là đèo Màn Lăng. Đèo có phần dốc và dài (6 km), chạy từ Trung Hội (Phù Mỹ) đến Thạch Khê (Hoài Ân). Dưới chân đèo, phía Thạch Khê, có một ngôi chùa cổ.

Để giúp hành khách qua lại khỏi bị nạn cọp, nhà sư trụ trì tổ chức việc đưa đón rất nên thơ:

Hành khách đến chân đèo thì dừng lại đợi nhau. Khi đã được năm ba người, nhà sư đến đưa qua đèo. Không giáo không mác, không trống, không phèng la… Nhà sư thong thả đi trước, tay gõ mõ miệng tụng kinh. Hành khách nối nhau đi theo, khoan thai trật tự… Sang phía bên kia, nếu có khách thì nhà sư quay trở lại, đưa qua đèo. Cứ thế hết ngày nọ sang ngày kia. Ai cúng ít nhiều cũng được, không cũng không sao. Trước kia hổ hoạn thường xảy ra. Từ khi có sự đón đưa của nhà chùa, người qua lại đều được vô sự.

Đó là chuyện cũ ngày xưa. Ngày nay người không còn sợ cọp nên tiếng mõ cây kinh không còn cần thiết.

Từ Màn Lăng trở vô, còn nhiều ngọn núi hiểm trở, như Hòn Giang (790 thước), Hòn Giêng hay Duyên (847 thước) v.v… nối tiếp nhau không dứt.

Kế đến núi Tham Hùng (719 thước) nằm phía Tây huyện lỵ. Hình núi cao vòi vọi, cây cối rậm rạp. Trong núi có mọc giống Thạch Xương Bồ, mùi thơm, dùng làm thuốc. Do đó, núi có tên nữa là Thạch Xương Bồ Sơn (Trong các bản đồ cũ cũng như mới đều ghi là núi Yên Luyên (?)). Trước mặt núi là đồng bằng, sau lưng và phía tả phía hữu đều có nhiều núi cao ủng hộ.

Phía Nam núi Tham Hùng có núi Điệp Thạch, đá chồng chất lên nhau, trông có vẻ kỳ vỹ (417 thước, bản đồ ghi là núi Cung Chấp).

Núi này tiếp với núi Thạch Bàn ở Phía Nam.

Những ngọn núi thượng dẫn đều nằm ở phía Tây Quốc lộ số 1.

Phía đông Quốc Lộ có núi Lạc Phụng. Cũng có tên nữa là Kê Khê Sơn.

Núi này đối trĩ cùng núi Bích Kê ở Hoài Nhơn. Và Lạc Phụng cùng Bích Kê là tả dực và hữu dực của tòa nhà chữ Môn mà dãy núi phía Tây Phù Mỹ là Chính Tẩm, như trên đã tả.

Cũng như Bích Kê, Lạc Phụng là một vùng núi gồm nhiều ngọn đứng trên một căn đế rộng hàng trăm dặm vuông, giăng từ quốc lộ đến gần mé biển, từ đầm Nước Ngọt ra đầm Trà Ổ. Ba mặt Bắc, Đông, nam có đường Liên Hương chạy quanh và hợp cùng quốc lộ thành hình chữ nhật cân đối.

Những ngọn núi đáng kể trong vùng là hòn Xuân Kiển (321 thước), hòn Tháp Tre (605 thước), hòn Núi Miếu (518 thước).

Vùng núi phía Đông dính liền cùng dãy núi phía Tây do ngọn đèo Nhong, tên chữ là Hải Lương.

Đèo nằm trên quốc lộ, dài đến 9 cây số. Hai đầu có hai dốc mà khách bộ hành đã mượn những gốc cây cổ thụ ở hai bên đường để đặt tên: Dốc Mù U ở phía Bắc, Dốc Me ở phía Nam.

Thùy trực cùng Đèo Nhong, có đèo Ô Phi chạy từ Phú Nhiêu đến Chánh Trực, mở đường giao thông cho người ở vùng quốc lộ xuống biển và người vùng biển lên quốc lộ.

Đèo Ô Phi sánh với Đèo Nhong thì thấp thua và cũng ngắn thua, song khúc khuỷu khó đi.

Núi đèo trong nhánh Phù Mỹ, dãy Kim Sơn, đại khái là thế.

Tiếp theo dãy Kim Sơn là dãy Vĩnh Thạnh.

Cũng như Kim Sơn, Vĩnh Thạnh là nơi Trường Sơn nứt nhánh. Núi non chồng chất. Hai miền Vĩnh Thạnh và Kim Sơn liên lạc với nhau nhờ đèo Giốc Đót.

Dãy núi Vĩnh Thạnh chạy thẳng xuống quận Phù Cát. Nhưng nửa chừng thì bị gián đoạn. Sơn mạch chạy ngầm dưới đồng bằng, mãi gần đến mới đột khởi thành Núi Bà.

Núi trong dãy Vĩnh Thạnh có nhiều ngọn cao lớn, tạo cho dãy một hình thế hiểm yếu không kém các dãy Kim Sơn, An Lão. Như hòn Nong Bong, hòn Bong Bong cao độ gần nghìn thước, chất ngất sum sê.

Hòn Bong Bong thường gọi tắt là hòn Bong. Đó là một danh sơn trong dãy Vĩnh Thạnh. Núi đứng nghiêng nghiêng về hướng Tây Nam, hình giống người đàn bà vừa "đi việc cần" xong đứng dậy, tay còn xách quần. Nên người địa phương thường gọi là Núi Xách Quần và đặt ra câu hát rằng:

Xứ em có núi Xách Quần
Lấy ai thì lấy em đừng lanh chanh
Yêu anh thì giữ lấy anh
Em đừng ăn tỏi chê hành là hôi.
Xách quần chạy ngược chạy xuôi
Chạy mỏi cẳng rồi đứng lại bơ vơ
Trên đầu mây kéo bạc phơ
Dưới chân nước chảy lững lờ về đông.


Núi Bà tên chữ là Bà Sơn. Lại có tên nữa là Bô Chinh Đại Sơn.

Núi Bà không phải là một hòn độc sơn, mà là một quần sơn tụ hợp trên một căn đế như Bích Kê và Lạc Phụng.

Núi đột khởi tại Chợ Gồm thuộc thôn Vĩnh Trường. Từ Chợ Gồm, núi chạy xiên xiên xuống Đông Nam qua các thôn Đại An, Khánh Hậu, Chánh Lộc, Phương Phi… đến Cách Thử. Đó là mặt trong. Còn mặt ngoài, thì từ Chợ Gồm núi chạy xuống hướng Đông Bắc, qua thôn Chánh Danh, Gia Thạnh… Đến Chợ Gành trên bờ đầm Đạm Thủy tức đầm Nước ngọt, gần cửa biển Đề Gi, thì quay vào Đông Nam, chạy dọc theo bờ biển, qua thôn Phú Dõng, Chánh Thiện, Tân Thắng, Chánh Oai, rồi chạy thẳng vào Nam, cũng theo mé biển qua các thôn Thanh Hà, Tân Lý, Vĩnh Hội, Trung Nghĩa (vùng Cách Thử).

Núi chiếm một vùng rộng có đến hàng trăm dặm vuông.

Núi ngó ra biển, hùng vỹ, hoành tráng.

Trong núi có nhiều ngọn cao chất ngất, như Hòn Hòe ở phía Đông Nam, Hòn Hang Rái ở phía Đông Bắc, Hòn Chuông ở phía Tây v.v…

Đó là ba ngọn cao nhất. Nhưng cao hơn hết và đặc sắc hơn hết là Hòn Chuông (892 thước).

Hòn Chuông cũng gọi là Hòn Chung.

Hình tròn trịa, đồ sộ, bên mặt có núi nhỏ bao quanh. Trên đỉnh có một tảng đá lớn nằm ngang, bằng phẳng, và bên cạnh một tảng khác đứng thẳng trông cao lớn dềnh dàng. Đứng xa trông giống hình quả chuông úp sấp.

Ngọn núi này đứng phía nào cũng thấy vì vượt hẳn lên trên các ngọn khác. Đứng nơi cầu đá Quy Nhơn nhìn ra, thì trong mây khói lờ mờ, có thể lầm là một ngọn cổ tháp xây trên đỉnh núi.

Chính hòn Chuông là chủ sơn, đại diện toàn thể Núi Bà, nên người địa phương thường gọi Hòn Chuông là Hòn Bà. Và có lẽ do đó mà Núi Bà mệnh danh là Bô Chinh Đại Sơn, vì Bô Chinh là "chiêng đồng đi trốn", mà "chiêng" với "chuông" có thể coi là "đồng loại".

Có người bảo rằng khi đặt tên chữ cho Núi Bà, cổ nhân nhắm hình dáng của toàn thể vùng núi. Vùng núi đứng trên cao ngó xuống thấy hơi tròn như một chiếc mâm đồng bị méo móp. Hòn Chuông nổi lên ở chính giữa như là một cái núm. Nhìn toàn diện giống một "chiếc chiêng đồng úp sấp và có dáng khép nép" nên mới gọi là Bô Chinh, và vì tình thế rộng lớn nên thêm chữ "Đại" vào.

Đó là ức đoán.

Trên Hòn Chung, lại có một khoảng đất bằng, tục gọi là Ba Sân. Truyền rằng:

Năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Ánh đem quân vào cửa Thị Nại. Vua Thái Đức sai thái tử Nguyễn Bảo đem binh ra chống giữ. Nhưng Nguyễn Bảo bị thua, thành Quy Nhơn bị quân nhà Nguyễn kéo lên công phá. Vua Thái Đức thấy thế giặc mạnh, liệu khó chống nổi, bèn sai người cầu cứu ở Phú Xuân. Trong lúc binh cứu viện chưa đến, nhà vua thường lên nơi Ba Sân, đứng ngó ra Bắc mà trông đợi.

Có người không tin là chuyện có thật, vì nghĩ rằng:

- Thành Quy Nhơn đóng tại thành Đồ Bàn cũ, ở cách Núi Bà rất xa. Trong khi quốc gia hữu sự, vua Thái Đức làm gì có dư thì giờ để ra tận nơi Ba Sân mà đứng trông đợi.

Không tin là chỉ xét về mặt địa lý chớ không xét kỹ mặt lịch sử.

Sử chép rằng "dưới núi có kho Càn Dương. Chỗ kho này, Tây Sơn dùng làm Tân phủ, cùng thành Quy Nhơn nương tựa nhau".

Thuộc xã Cát Minh, phía Đông thôn Chánh Danh và phía Tây Chợ Gành, có một nổng gò tục gọi là Gò Kho. Kho Càn Dương cất tại gò ấy.

Khi đến Tân phủ, vua Thái Đức vì nóng lòng đợi quân Phú Xuân, có thể lên núi trông lắm.

Lại truyền rằng: Năm Quí Sửu (1793) khi Nguyễn Ánh đem quân vào đánh thành Quy Nhơn thì chia một đạo binh ra tấn công kho Càn Dương. Quân Tây Sơn dựa núi bắn xuống, quân Nguyễn Ánh không tiến được. Tên Trần Công Hiến, người Quảng Nghĩa xin lén vào trong quân Tây Sơn để làm nội ứng. Khi vào được rồi Hiến ra ám hiệu cho quân Nguyễn Ánh biết, rồi cho người mật báo rõ những nơi hiểm yếu của đối phương… Tướng của Nguyễn Ánh nhờ vậy mà biết rõ được địa thế, liền nhắm những nơi nhược điểm mà đánh vào. Khi binh ngoài đánh vô thì Trần Công Hiến ở trong đánh ra. Không kịp phòng bị, quân Tây Sơn bị thua. Quân Nguyễn Ánh phá được thành lũy, chiếm được núi.

Lại truyền rằng:

Khi Nguyễn Ánh chiếm cứ được Núi Bà rồi thì kéo quân vào đóng tại Khánh Lộc (thuộc xã Cát Hanh bây giờ). Lương thảo tích trữ tại kho Càn Dương dùng tiếp tế cho quân Khánh Lộc. Một vị quan coi việc quân nhu, tải lương trên một cỗ xe bánh gỗ, vừa đến chân gò vùng Gia Thạnh, thì xe bị gãy bánh, phải sửa chữa, nên lương đến trễ. Nguyễn Ánh bắt tội chém đầu. Đầu bay đến thôn Trung Chánh (thuộc xã Cát Minh hiện tại và gần Gia Thạnh) rơi trên một nổng gò, tục gọi là gò Loi. Còn nổng ở Gia Thạnh, sau khi xảy ra việc gãy xe, liền mệnh danh là gò Xa Tó, tức gò xe gãy.

Vị quan kia tên gì không rõ, chỉ nghe truy chức tước là "Kỷ Vị khoa Tấn sỹ Phi Vận Đại tướng quân". Hiện có hai nơi thờ là Khánh Lợi, nơi chôn xác, và Trung Chánh, nơi chôn đầu.

Núi Bà nổi danh một phần do di tích lịch sử.

Trong núi còn có Đá Vọng Phu ở vùng Chánh Oai, sự tích nửa hư nửa thực, có chùa Linh Phong, cất trên một ngọn núi ở vùng Phương Phi, phong cảnh thanh tú sự tích kỳ dị.

Và núi tuy cao và liền lạc nhau, nhưng bốn mặt đều có khe có suối, và giữa núi có nhiều thung lũng trồng tỉa rất tốt. Nhân dân địa phương lập thôn ấp trong một vài thung lũng. Như thôn Chánh Hùng là một.

Thôn Chánh Hùng nằm trơ trọi một mình, bốn bề núi non vây bọc. Nhờ hai đường đèo mới tiếp xúc được với đồng bào ở bên ngoài. Một đèo chạy ra phía Bắc, đến thôn Phú Dõng, gọi là Đèo Nhỏ. Một đèo nữa chạy vào phía Nam, đến thôn Mỹ Thuận, Mỹ Long, Chánh Mỹ, gọi là đèo Tố Mộ tục gọi là Tó Mọ hay Đèo Lớn.

Ở mặt phía Đông, có nhiều nơi chạy sát biển, làm trở ngại việc giao thông của nhân dân ở dọc theo mé biển. Như phái trong Chánh Oai, tại Thanh Hi, núi chạy thành một mũi đá hiểm hóc, thọt ra biển, gọi là Mũi Đá Giăng. Nhờ có đường đèo vắt ngang mà người phía Bắc phía Nam mới qua lại được.

Nhưng cũng như đèo Nhỏ, đèo Tố Mộ, đèo Mũi Đá Giăng rất khó đi vì nhiều đá dăm mọc lởm chởm.

Ở phía ngoài đèo Mũi Đá Giăng, từ Chánh Oai, Tân Thắng trở ra tới ngoài Chánh Lợi, cát nổi thành truông. Có nhiều chỗ cát vun thành gò. Qua lại rất bất tiện nhất là mùa hạ nắng nung.

Bởi vậy những người qua lại vùng này rất e ngại đèo và truông. Nên ca dao Bình Định có câu:

Anh về em cũng muốn theo
Sợ truông cát nóng, sợ đèo đá dăm.


Nhưng để an ủi người thương, khách đa tình lại cười duyên, nói nhỏ:

Đá dăm anh đã lượm rồi,
Còn truông cát nóng em bồi bùn non.


Đó là những nét đại cương ở trong và ngoài Núi Bà.

Mới trông qua Núi Bà, có lắm người tưởng không có liên hệ cùng dãy Trường Sơn ở phía Tây, và ở mặt Đông, núi dừng lại ở nơi Đề Gi và Cách Thử.

Nhưng sự thất thì Núi Bà, thuộc sơn hệ dãy Vĩnh Thạnh là một nhánh lớn của Trường Sơn, như trên đã nói, và tới Cách Thử thì phục xuống, sơn mạch chạy ngầm dưới đất và biển nổi lên thành dãy núi Triều Châu.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:41 am

* Núi Triều Châu

Là một vùng cát trắng vun cao như núi, thỉnh thoảng nhô lên những ngọn núi đá, nối liền Cách Thử và chạy dài vào Nam tạo thành một bán đảo làm bờ phía Tây cho biển Đông và bờ phía Đông cho đầm Thị Nại.

Bán đảo Triều Châu rộng từ 2 cây số (chỗ hẹp nhất) đến 5 cây số (chỗ rộng nhất) và dài đến 20 cây số. Màu cát trắng nổi bật giữa vùng nước xanh trời xanh.

Từ Cách Thử trở vào, gần ngót 8 cây số, toàn vùng cát vun thành đống, thành gò, mênh mông bát ngát. Cổ nhân gọi là Trường Châu Lãnh (Núi Bãi Dài) hay Trường Chử Chủy (Mũi Bãi Dài).

Qua khỏi Trường Châu, đến Hưng Lương, sát mé biển Đông, nổi lên một ngọn núi thấp (98 thước) gọi là Đơn Cương (Núi Đơn) dưới chân khỏa cát và dài ra mặt nước như một ngón tay trỏ, và ngón tay trái giơ ra.

Kế đó đột khởi một vùng núi đá đen khá cao (361 thước) bích lập giữa vùng cát trắng, trong khoảng trời nước lục lìa ngoài biển trông vào giống in một bó mực tàu so le dựng đứng trên cuộc giấy quyến trải trên chiếc bàn phủ khăn xanh.

Đó là hòn Hắc Thạch Sơn, tục gọi là Hòn Đá Đen hoặc Hòn Đen.

Phía trong Hòn Đen, cũng dọc theo mé biển và cũng nổi giữa cát, một hòn núi hình yên ngựa, mệnh danh là Mã Cảnh Sơn (núi Cổ Ngựa) tục gọi là núi Giốc Ngựa (166 thước).

Tiếp theo Giốc Ngựa là Eo Vược, sách chép là Yêu Việt. Đó là eo đá hẹp (chừng nửa cây số) mà dài (gần hai cây số), phía Đông biển liếm thành hình bán nguyệt, phía tây đầm Thị Nại ăn sâu vào thành một vũng khá rộng nằm ôm lấy chân eo. Đứng phía đầm trông xuống thật giống sòng tát nước ở đồng quê. Tục gọi là Sòng Tát Khổng Lồ.

Vì sao lại gọi thế?

Truyền rằng:

Xưa kia, ông Khổng Lồ ngồi tát nước đầm Thị Nại để bắt cá ăn. Thình lình một con cá Vược to lớn nhảy vọt qua núi ra biển. Khổng Lồ nhảy theo chụp không được, tức mình dậm chân. Chân dậm quá mạnh, một phần đá sụp xuống thành vũng, phần còn lại thành eo.

Do đó, eo mệnh danh là Eo Vược, và vũng hợp với eo thành Sòng Tát Khổng Lồ.

Qua khỏi Eo Vược thì đến Phương Mai.

Đây là một vùng núi có nhiều ngọn đứng trên một căn đế. Những ngọn núi này chỉ cao từ 100 thước đến 316 thước mà thôi, được nhiều người biết là hòn Chớp Vung, hòn Mai, hòn Điệp Chữ tức Bãi Điệp… Trên núi không có cây to nên khe núi thường bị khô nước.

Ngoài những ngọn núi đá, Phương Mai còn hai mũi đá nhọn chạy thẳng ra biển. Một ở phía Đông Nam, trông như mũi mác, có chim yến làm tổ nơi gành, nên tục gọi là Mũi Mác hay Mũi Yến và khách Hà mặc gọi là Yến Chủy. Một ở phía Tây Nam, hình giống chiếc nanh cọp, ngó lên thành phố Quy Nhơn, tục gọi là Gành Hổ, sách gọi là Hổ Ky.

Vùng núi Phương Mai là điểm cuối cùng của dãy Triều Châu và là bình phong của cửa biển Thị Nại. Các nhà phong thủy bảo đó là đầu rồng, mà cổ là Eo Vược, khúc mình chạy từ Giốc Ngựa đến Cách Thử và khúc đuôi từ Cách Thử đến Đề Gi. Đi trên máy bay trông xuống thật giống in con khủng long đương bơi trên sóng biếc.

Dãy Triều Châu tuy toàn cát và đá núi, nhưng vẫn có làng có xóm, và dân cư nhờ có biển và đất đai ở vùng thung lũng vẫn được áo ấm cơm no. Trong vùng Phương Mai lại có mỏ dầu hỏa. Có một năm dầu trào lên làm chết cả hoa màu ở quanh vùng, và trong thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhân dân địa phương đào được một vũng nhỏ lấy dầu thắp. Mỏ dầu này, theo các nhà chuyên môn thì còn non và không được nhiều nhiên liệu.

Trước kia trên núi Triều Châu, nhất là tại các ngọn núi có nhiều cây cối, có nhiều trâu rừng. Truyền rằng đó là trâu của bà Cố Hỷ.

Bà Cố Hỷ là một phu nhân (sống về thời nào không rõ) rất giàu ở thôn Huỳnh Giản. Nhà bà nuôi hàng nghìn con trâu thả ăn khắp núi. Sau khi bà chết không ai có thể chăn nổi, trâu trở thành trâu hoang. Hiện tại Huỳnh Giản còn có đền thờ phu nhân. Còn trâu vì mức sinh sản mỗi ngày mỗi kém dần, thời Pháp thuộc và thời chiến tranh, lại còn bị bắn giết quá nhiều, nên không còn được bao lăm.

Dưới chân Hòn Mai có một bàu nước ngọt khá rộng và một ngôi chùa cổ. Chùa thờ một tượng Phật bằng đá xanh cao lớn bằng hình người. Phía sau lưng tượng có một hàng chữ bùa. Tượng này người địa phương tìm thấy ở dưới mé bàu. Truyền rằng xưa kia tượng ở tận ngoài Lao Xanh (Pou-lo-Gam-bir). Một hôm tự nhiên biến mất. Nhân dân tìm mãi không thấy. Sau nghe người Phương Mai được tượng Phật, bèn tới nhìn thấy quả là tượng Phật của mình, mới đòi lại. Nhưng hàng trăm người xúm khiêng mà giở lên không nổi, đành phải cúng lại cho người Phương Mai. Những năm có bệnh dịch, bệnh tả, thì tượng Phật tự nhiên đổ mồ hôi. Người địa phương lấy son thoa nơi lưng Phật, lấy giấy vàng in những hàng chữ bùa, đem về dán nơi nhà và đốt uống với nước lã. Người có bệnh lành bệnh, người không bệnh tránh khỏi bệnh.

Ngoài những di tích thần bí, Phương Mai còn nhiều di tích lịch sử. Đó là những dấu thành lũy, đồn bảo của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Phúc mà nắng mưa chưa dịt hết vết tang thương.

Dãy Triều Châu xưa kia là một quần đảo. Sau khi cửa Cách Thử bị lấp, cát nối liền các hòn đảo lại, rồi ghép đảo vào đất liền thành một bán đảo cát trắng lẫn núi xanh, và làm điểm "chấm hết" cho dãy Vĩnh Thạnh.

Đến nửa huyện Vĩnh Thạnh, dãy Trường Sơn chạy thẳng vào đến Phú Yên. Núi non chồng chất, liên tiếp thành một bức tường lũy có nhiều lớp lồng vào nhau, hùng hiểm hoành tráng.

Đoạn núi này nằm trọn trong địa hạt Bình Khê (Vĩnh Thạnh xưa thuộc về Bình Khê) và trước đây làm ranh giới giữa Bình Định và Gia Lai.

Đối với tỉnh lỵ Bình Định (Quy Nhơn hiện tại cũng như thành Bình Định, Đồ Bàn ngày xưa), đoạn núi Trường Sơn này nằm chính hướng Tây, cho nên mệnh danh là dãy Tây Sơn.

Tên Tây Sơn đã có từ trước.

Vì núi mệnh danh là Tây Sơn, nên những vùng sơn cước ở quanh núi và vùng bình nguyên ở dưới núi cũng mệnh danh là Tây Sơn. Cổ nhân gọi là Tây Sơn Ấp.

Ấp Tây Sơn gồm có ba phần:

- Tây Sơn Thượng là vùng An Khê gồm các vùng núi non và rẫy ruộng làng mạc thuộc huyện An Túc.

- Tây Sơn Trung gồm các vùng sơn cước, từ chân đèo An Khê đến Hữu Giang, Tả Giang.

- Tây Sơn Hạ gồm vùng bình nguyên từ Trinh Tường, Phú Lạc đến cuối huyện Tây Sơn hiện tại. Hai cụm tháp Dương Long và Thủ Thiện là mốc ranh giới của ấp.

Đây là nơi sản sinh tam kiệt nhà Tây Sơn, nữ kiệt Bùi Thị Xuân và anh hùng Mai Xuân Thưởng.

Địa thế hiểm yếu rất có lợi cho việc dụng binh.

Dãy Tây Sơn còn có tên nữa là Trụ Lãnh và Phong Lãnh.

Vì thượng lưu sông Côn chạy lồng theo núi, nên dãy Tây Sơn bị chia làm đôi.

Núi tuy chia mà chẳng những sơn mạch không bị gián đoạn, địa thế nhờ có sông lại càng hiểm trở thêm, và phong cảnh đủ thủy tú sơn kỳ càng thêm tình thêm thú.

Trong dãy có nhiều ngọn cao lớn, trông đồ sộ hiên ngang. Nhưng nổi danh, hoặc vì có di tích lịch sử, hoặc có những đặc điểm làm cho mọi người chú ý là những ngọn sau đây, kể từ Bắc vào Nam:

Trước hết là Hòn Ngăn (785 thước) dính liền với hòn Bong Bong trong dãy Vĩnh Thạnh. Núi cao rậm. Có vẻ ngang ngược như muốn ngăn lối chặn đường khách đi rừng. Bốn mặt có suối khe bao bọc. Thế thật là hiểm hóc.

Phía đông Hòn Ngăn, cách một dòng suối, có hai ngọn núi cao ngất đứng song song như hai răng nanh, nhưng mỗi hòn có một hình dạng một sắc thái riêng. Đó là hòn Vỏ Cá và hòn Da Két.

Hòn Vỏ Cá (734 thước) đứng phía Bắc. Dưới chân thì nở chành bành ra, đến nửa chừng thì thon lần lại, khi gần tới đỉnh, vụt đứng sững lên như đống rơm vun ngọn.

Hòn Da Két (639 thước) đứng phía Nam, thấp hơn hòn Vỏ Cá. Dáng bệ vệ. Triền phía đông, từ lưng núi lên tới đỉnh, không có cây to, chỉ rải rác một ít bụi rậm trong những đám tranh săng mọc dày. Màu tranh săng phản chiếu bóng mặt trời ban mai trông non tươi như màu lông két. Do đó mà núi mệnh danh là Da Két.

Phía Tây Nam hòn Da Két, và liền với Hòn Ngăn ở phía Bắc, Hòn Nước Đỏ (563 thước) cũng có một hòn "anh chị" trong vùng.

Bốn ngọn núi này đứng chung trên một ngăn đế, và chỉ cách nhau do những dòng suối nhỏ chạy dưới chân.

Trên hòn Ngăn và hòn Nước Đỏ có đông đồng bào dân tộc thiểu số ở. Họ đem lâm sản đổi chác cho nhau tại chợ Hà Nhe.

Chợ Hà Nhe ở dưới chân hòn Ngăn, phía Đông Nam, gần Nước Đỏ. Đó là một khoảnh đất trống ở trên một cái trảng rộng, không quán không lều. Chợ họp giữa trời, mỗi tháng sáu kỳ. Người Kinh ở các vùng lân cận, nhất là người Phù Mỹ, Phù Cát cũng đến, đem cá khô, muối, mắm… đổi lấy lâm sản đưa về vùng xuôi.

Cảnh chợ không có gì đặc sắc, ngoài cây gõ lâu đời.

Cây gõ này sống không biết bao nhiêu thế kỷ. Gốc lớn gần bốn người ôm, đọt ngó trật ót. Toàn thân đã thành lõi hết, chỉ còn lơ thơ đôi nhánh tươi. Người dân tộc thiểu số địa phương coi cây như thần, đụng đến phải tội vạ. Xưa, các nhà cầm quyền trong hạt, nhiều người muốn chiếm hữu. Nhưng dùng uy quyền không được, dùng tiền tài không được, đành phải để cây cổ quí nơi chợ làm của chung.

Những cây gõ to lớn như thế, ở trên núi cao không hiếm. Cây gõ Hà Nhe quí ở điểm: ở dưới thấp và đứng độc lập ở giữa một dãy trảng không cây cối, như một cột trụ kình thiên. Thợ rừng thợ săn đến hòn Ngăn, Nước Đỏ, đều lấy cây gõ này làm mục tiêu mỗi khi rủi lạc đường.

Tiếp theo hòn Nước Đỏ, có hòn Bạc Má (570 thước).

Đây cũng là một kỳ sơn. Bộ ngó "chằm vằm" và sắc núi trông đậm hơn các hòn chung quanh. Trên đầu núi, phía Đông Nam, một vùng đá trắng nổi lên như một gò má, đứng xa vẫn trông thấy rõ ràng. Do đó núi mệnh danh là Bạc Má.

Hòn Bạc Má và hòn Nước Đỏ có thể coi là một, nếu không có đèo Bồ Bồ chạy ngang qua, làm ngăn cách Bắc Nam. Không phải có ý trách đèo chia núi. Vì chia như thế không có hại gì cho phong cảnh, mà còn làm lợi cho đồng bào trong việc qua lại hàng ngày. Đèo mở đường giao thông giữa Tiên Thuận ở phía Tây và Thuận Ninh ở phía Đông. Người Phù Mỹ, Phù Cát muốn lên miền trên, thường dùng đường Bồ Bồ để đi cho ngắn.

Tại sao lại gọi là đèo Bồ Bồ? Bồ Bồ có phải tiếng dân tộc thiểu số chăng? Không phải, mà là tiếng thổ âm của Bình Định. Các ông già bà cả bảo rằng:

- Đèo Bồ Bồ đã dài lại dốc. Thêm trước khi lên đèo ở phía Đông cũng như ở phía Tây, hành khách phải lên phải xuống nhiều trảng. Nên khi đến nửa đèo, phải xoay bồ bồ, nghĩa là bị chóng mặt. Cho nên mới gọi là đèo Bồ Bồ.

Truyền rằng tại đèo Bồ Bồ, xưa kia có một con voi to lớn, hai ngà trắng nõn và dài gấp rưỡi cây đòn gánh cong. Tục gọi là ông Bồ. Ông Bồ rất hiền. Ngày ngày thường ra nơi đèo đưa đón hành khách qua lại. Hành khách coi như một người bạn thân, luôn luôn đem chuối, mía đến cho ăn. Voi chết, xác chôn dưới chân đèo. Hành khách qua lại đều tỏ lòng thương tiếc, mỗi người lượm một viên đá hoặc cục đất để trên nấm mồ, lâu ngày cao thành gò.

Có người bảo do chuyện Ông Bồ ấy mà đèo mang tên là Bồ Bồ.

Hai thuyết không biết có thuyết nào đúng hay chăng?
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:44 am

Hiện nay ở dưới chân đèo Bồ Bồ, phía Thuận Ninh, có mấy nấm mộ đất to lớn dị thường. Nếu trên ngọn không có hình con cá chép đào thủng xuống (hình trên các nấm mộ đất) và không có dấu dẫy, thì có thể lầm là những nấm gò. Có một nấm đồ sộ như một ngôi nhà cặp. Không biết đó có phải đó là mả Ông Bồ chăng? Các vị cố lão không còn, các anh chị em thanh niên ở trong vùng lại ít để ý đến những gì không cần thiết hàng ngày, nên không biết hỏi ai cho rõ!

Khi đi lên đèo thì những nấm mộ này phía tay trái. Ở phía tay phải lại có một vùng gò mênh mông, tục gọi là Ba Gò hay Lăng.

Vùng Lăng rất linh thiêng. Không ai dám vào.

Truyền rằng khi vua Gia Long lên ngôi cửu ngũ, nửa đêm người ở quanh vùng thình lình nghe tiếng kèn tiếng trống từ hướng Nam đưa lần lần tới. Trở dậy ra ngoài xem thì thấy bóng cờ bóng liệu từ từ đi đến phía Ba Gò. Có người theo rình xem, thì thấy vào Ba Gò rồi biến mất. Tiếng kèn trống cũng im từ ấy những đêm thanh gió mát, thường nghe tiếng nhã nhạc, văng vẳng trong Lăng.

Có người ngờ rằng Ba Gò là nơi dấu thi hài của vua Thái Đức. Cho nên Ba Gò mới có tên nữa là Lăng.

Đó chỉ là ức đoán mà thôi. Song không ai dám quả quyết rằng không đúng.

Phía Đông Hòn Bạc Má và Đông Nam Ba Gò có một cánh đồng rộng mênh mông, tục gọi là Đồng Quan. Đó là hậu cứ của Nghĩa quân Cần Vương. Những quân lính, sau một thời gian đi chinh chiến, trở về đây nghỉ ngơi và lo việc tăng gia sản xuất. Trong vùng có cất kho trại chứa lương thực và để quân lính ở gọi là Bắc Trại (Còn Nam Trại ở vùng Đồng Vụ). Do đó cả vùng cùng gọi là Bắc Trại.

Bắc Trại thuộc về Thuận Ninh. Đất đai phì nhiêu vì quanh năm có nước suối. Đường vô ra lại rất hiểm trở vì chung quanh đều có núi gò bao vây.

Phía Nam Bắc Trại có cái truông gọi là Truông Xe. Trong thời nghĩa quân Cần Vương nổi dậy chống Pháp những xe cộ chở lương thực vào Bắc Trại, hoặc đến Bắc Trại để chở lương thực ra ngoài tiền tuyến, đều phải dừng nơi Truông. Vì vậy nên gọi là Truông Xe.

Chính những di tích lịch sử này mà làm cho những hòn Da Két, Nước Đỏ, Bạc Má… nổi danh nhiều hơn là những điểm đặc biệt của núi.

Từ hòn Bạc Má trở vô, còn nhiều ngọn núi hiểm, như hòn Sống, hòn Ngang…, nhưng ngoài người địa phương ra ít ai để ý. Núi ở phía Tây đèo Bồ Bồ cũng thế. Đó là vì đường đi khó khăn, khách du lãm xưa nay không đủ phương tiện đến viếng thăm.

Nhưng ở vùng Tiên Thuận, lại có đôi ngọn núi thấp nhỏ, mà danh tiếng được bay xa. Như Hòn Cấm ở Tiên Bình.

Hòn Cấm tuy thấp (246 thước) nhưng rừng rậm cây cao. Có nhiều danh mộc to lớn, hình thù cổ quái. Ngày xưa có người thợ rừng vào núi làm súc. Thấy một cây cổ thụ vừa cao lớn, vừa thẳng, bèn ra tay rìu. Nhưng lưỡi rìu vừa phạm vào thân cây liền gãy đôi. Người thợ rừng dùng lưỡi rìu khác sắc bén và chắc chắn hơn. Lần này rìu không bị gãy nhưng bị mẻ. Lưỡi rìu khác gang thép già gấp đôi thay vào, và cây bị đốn ngã.

Cây vừa ngã thời nơi gốc, ngay chỗ bị đốn, trồi lên một đầu lâu, tóc chờm bờm và xanh như cỏ, đôi mắt mở trừng trừng nhìn người thợ rừng. Người thợ rừng không chút sợ hãi chống rìu đứng trố mắt nhìn lại. Hồi lâu đầu biến mất. Người thợ rừng đẵn cây làm súc đem về bán. Họ Bùi ở trong thôn Tiên Thuận mua súc ấy về làm nhà. Nhà vừa cất xong thì trong gia đình xảy ra liên tiếp những tai biến. Người thợ rừng hối hận đến thuật lại chuyện "thần tóc xanh"! Biết rằng thần cần có chỗ nương tựa, họ Bùi liền khấn vái rồi lập miễu tại nơi cây bị đốn mà phụng thờ. Từ ấy trong nhà yên ổn. Họ Bùi bèn làm đơn kể hết sự tình, trình lên quan địa phương xin cấm không cho đốn cây nơi rừng. Quan chuẩn y.

Do đó núi mệnh danh là Hòn Cấm.

Câu chuyện có phần hoang đường. Nhưng phần đông đồng bào địa phương rất tin, nên ít người dám vào Hòn Cấm. Lắm người không tin, nhưng vẫn thích nghe kể và cũng ưa kể lại cho người khác nghe. Ai cũng lấy làm lý thú. Kẻ bàn ra người tán lại, câu chuyện mỗi ngày mỗi thêm phổ biến. Nhờ thế mà Hòn Cấm nổi danh.

Cũng ở vùng Tiên Thuận, còn có một cụm núi nữa, cũng không cao lớn, nhưng được xa gần mến danh. Đó là Hòn Kho ở tại Tiên An.

Trong núi này, nghĩa binh Cần Vương đã cất kho tích trữ lương thực để chống Pháp. Coi giữ kho là nghĩa sĩ Huỳnh Ngạc nổi tiếng là cương cường liêm chính. Do có kho của nghĩa binh cất trên núi, núi mệnh danh là Hòn Kho.

Dưới chân Hòn Kho có dòng suối Từ Bi phát nguyên từ vùng đèo Bồ Bồ ở phía Bắc, rồi chảy ra sông Hà Giao (tục gọi là sông Hà Riêu, một ngọn nguồn của sông Côn) ở phía Nam.

Phong cảnh thật hữu tình. Vì vậy, khách làng thơ thường đưa nhau đến ngâm vịnh, và có truyền lại nhiều vần khả ái. Như:

- Hòn Kho chất chứa gan trung
Tình sâu đất nước thấm dòng Hà Giao.
Bao phen đổi vật dời sao
Hoa thơm giữa tiếng anh hào càng thơm

(Thơ của Trường Xuyên và Định Phong).

- Rừng xanh mướt bóng sơn thôn
Dấu cũ Cần Vương núi một hòn
Thơm thảo lòng Dân kho chất chứa,
Ngọt ngào ơn nước suối khơi tuôn.
Dòng trôi cuộc bụi theo dâu bể
Đá tạc hồn trung vững nước non.
Biết có đâu đây đền nghĩa liệt?
Hương đưa phảng phất gió hoàng hôn

(Thơ của Trường Xuyên và Định Phong).
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:46 am

Từ Tiên Thuận trở xuống, dọc theo con sông Côn, đến Hữu Giang, Phú Lạc, núi vẫn nối liền nhau, quanh co khúc khuỷu. Nổi danh nhất là hòn Trưng Sơn.

Hòn Trưng Sơn thuộc thôn Phú Lạc, quê hương của tam kiệt nhà Tây Sơn và anh hùng Mai Xuân Thưởng.

Núi không lấy làm cao (422 thước) nhưng trông rất khôi hùng.

Trông gần thì mập mạp hung hăng như con bò đực sung sức lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu. Nên người địa phương thường gọi là Hòn Sung.

Lưng núi có nhiều chỗ nổi từng vồng từng ụ, như bị đánh sưng. Nên nhiều người gọi là Hòn Sưng thay vì Hòn Sung.

Núi còn có tên nữa là Độc Xỉ Sơn và Độc Nhũ Sơn, vì ở xa, nếu đứng xiên một phía mà trông thì giống một chiếc răng nanh dựng ngược, còn đứng dưới mặt mà ngó thì tương tợ một nấm vú vung (theo truyền thuyết thì Độc là một mình; nhưng Đại Nam Nhất Thống Chí chép chữ Độc là con bò nghé). Do đó núi lại có tên nữa là Bút Sơn.

Hòn Sung là tổ sơn trong vùng hữu ngạn. Mặt hướng về Đông Nam và lấy dãy Sơn Triều ở Cầu Gành, thuộc An Nhơn, làm tiền án và long mạch chạy xuống hướng Đông đến hòn Hạ Thiên Sơn tục gọi là hòn Mò O ở giữa An Nhơn và Phù Cát, thì hồi cố. Phía trước mặt và hai bên tả hữu, gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và những ngọn núi chung quanh đều xây mặt về triều cũng như các vị đại thần đứng chầu một đấng anh hùng. Còn gò đống kia là quân lính dàn hầu.

Đến viếng Hòn Sung, một du khách có để lại mấy câu rằng:

Hòn Sung tuy thấp mà cao
Trời cho làm chốn anh hào lập thân.
Kìa ai áo vải cứu dân,
Kìa ai ba thước gươm trần chống Tây.
Chuyện đời rủi rủi may may,
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn.


Trên đỉnh Hòn Sung có một vùng đá hình chữ nhật, bằng phẳng, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng lên nhau. Người ta bảo đó là "Mả Mẹ Chàng Lía".

Do đó người địa phương còn gọi Hòn Sung là hòn "Mả Mẹ Chàng Lía".

Sau lưng và phía Tả phía Hữu Hòn Sung, có nhiều ngọn núi không cao nhưng hiểm trở. Như hòn Hành Sơn tục gọi là Dốc Dài nối liền Hòn Sung và hòn Vĩnh Đỗ tức hòn Dồ ở Hữu Giang. Nhưng đặc sắc hơn hết là hòn Đá Dàn, tên chữ là Dương Thạch Sơn (Trong Đại Nam Nhất Thống Chí lại chép chữ Dương là khí Dương).

Hòn Đá Dàn ở phía Bắc Hòn Sung, cạnh Hòn Sõng.

Trên núi, đá chồng chất, lớp dựng lên, lớp giăng ra. Do đó núi mệnh danh là Đá Dàn (dàn bày ra). Dưới chân và trên triền núi, cây cối rậm rạp. Nhưng trên đỉnh lại chỉ có bụi còi. Đỉnh núi bằng phẳng và chạy dài như một con đường quan lộ. Có lối đi từ chân núi lên đỉnh rồi chạy qua Hòn Sõng, ra đèo Bồ Bồ… theo đường tắt ra vùng Kim Sơn. Chính nghĩa quân Cần Vương đã dùng con đường này để liên lạc với các mật khu trong hai vùng Bắc Nam.

Trong dãy núi phía sau lưng Hòn Sung, còn có ngọn suối gọi là Suối Đá vì khô quanh năm và trong lòng ngổn ngang đá là đá, thiên hình vạn trạng, chơm chởm, chập chồng. Đi vào trong sâu, có nhiều hang hố ẩn núp được kín đáo và muốn vào suối phải qua nhiều lớp gò nổng. Thật có thế "một người chống được cả trăm". Nơi đó là một trong những mật khu của nghĩa quân Cần Vương, do em ruột Mai anh hùng là Mai Xuân Quang trấn giữ.

Những núi non của dãy Tây Sơn ở phía hữu ngạn sông Côn đại khái là thế.

Còn bên tả ngạn, thì núi non cũng trùng trùng điệp điệp. Cùng theo một chiều, lớp chạy lên trên An Khê; lớp chạy thẳng vào biên giới Phú Yên; lớp chạy xiên xiên xuống hướng Đông Nam, từ Định Quang xuống Thượng Giang, Tả Giang, Trinh Tường, Phú Phong; thành từng dây dài, chằng chịt, liên miên…chằng chịt.

Đèo An Khê mở lối giao thông giữa Bình Định và vùng Tây Nguyên.

Tên An Khê mới thông dụng từ thời Pháp thuộc, trước kia gọi là đèo Vĩnh Viễn (hiện ở phía Tây đèo có một ấp lấy tên Vĩnh Viễn). Đèo An Khê cao đến 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ Đông lên Tây. Đường đi rất hiểm trở. Ngày xưa khi quốc lộ số 19 chưa mở, hành khách phải chịu lắm nỗi gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm. Có khúc phải dãng hai chân mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc Chàng Hảng. Dưới dốc Chàng Hảng về phía Đông có một cái ngoẹo, nơi ngoẹo có một cây khế rất sai. Hành khách lên đèo mỏi mệt, thường dừng chân nơi gốc khế để nghỉ ngơi và giải khát. Ngoẹo ấy tục gọi là ngoẹo Cây Khế. Cách ngoẹo Cây Khế chừng một khoảng có hai cây cổ thụ sống trên vài trăm năm, thân cao tán cả. Một cây Ké, một cây Cầy. Đó cũng là hai trạm nghỉ chân rất được hành khách lưu luyến. Trên đỉnh đèo có đồn Thượng An do người Pháp cất.

Thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nơi đồn này đã xảy ra nhiều trận kịch chiến. Và trước ngày ký hiệp định Genève, quân Pháp ở trong đồn đã bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Tiếp đó đồn An Khê ở phía Tây đèo, cũng bị bao vây. Thực dân Pháp và các nhà tư bản Việt Nam ở thị trấn An Khê phải tản cư bằng máy bay.

Trước đây gần 200 năm, đèo An Khê là con đường lên xuống của binh mã nhà Tây Sơn.

Hùng khí vẫn còn ngùn ngụt.

Chung quanh đèo, núi non chồng chất.

Ở vùng An Khê có núi Hiển Hách tục gọi là Hảnh Hót và Đại Nam Nhất Thống Chí chép là Hinh Hốt là một danh sơn có nhiều danh mộc, và chung quanh có nhiều ngọn núi qui triều.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:50 am

Núi vùng An Khê liên tiếp với núi vùng Cao Nguyên.

Phía Đông đèo An Khê, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như ở vùng Tây Sơn Thượng, tức vùng An Túc. Ngọn núi có danh nhất là hòn Ông Bình.

Hòn Ông Bình nằm ở phía Tây sông Thượng Giang. Tuy cao chỉ có 793 thước, song trông rất kỳ vĩ và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông. Nhưng sự thật thì có nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía Bắc, có đường đèo đi từ Đồng Hào ở ngả Đông, lên Trạm Gò. Cửa An ở ngả Tây. Đèo này gọi là đèo Vạn Tuế, tuy ngắn song dốc và đá mọc lởm chởm, nên rất khó đi. Ở triền phía Nam có con đường mòn chạy theo hướng Đông Nam để đến đèo An Khê. Đó là con đường lịch sử.

Đối trĩ cùng hòn Ông Bình, xiên xiên về hướng Đông Nam có hòn Ông Nhạc cao và rậm không kém hòn Ông Bình. Khí thế cũng rất hùng hiểm.

Từ hòn Ông Nhạc, núi chạy lớp thì vào thẳng trong Nam, lớp thì chạy xiên xiên xuống hướng Đông Nam. Danh sơn đều nằm trong dãy Đông Nam. Trước hết là hòn Tâm Phúc tục gọi là hòn Bà Phù.

Hòn Tâm Phúc không cao, hình giống như chiếc nón lá úp sấp. Núi có nhiều cây cổ thụ và nhiều thú rừng, nhất là heo. Đây là một hòn núi cấm, không ai được vào đốn củi, săn thú. Nhưng không cấm cũng ít ai dám vào, vì truyền rằng núi rất linh thiêng. Bà Thiên - Y A - Na thường tới lui, hào quang sáng chói. Thường ngày lúc mặt trời gần lặn, người ở gần núi thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người ta bảo rằng đó là tiếng của những kẻ bộ hạ ở nuôi heo cho bà Thiên Y.

Vì núi có bà Thiên Y tới lui nên mới mệnh danh là hòn Bà Phù tức là hòn núi của bà có Phù Phép.

Gần hòn Bà Phù có hòn Màn Lăng. Hai núi đối trĩ nhau. Thầy địa gọi hòn Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là Hòn Nguyệt.

Giữa hòn Màn Lăng và hòn Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.

Qua khỏi Hóc Yến đến núi Đồng Phong tục gọi là hòn Lãnh Lương.

Đi xuống nữa thì đến hòn Hoành Sơn, tục gọi là Núi Ngang.

Những ngọn núi thượng dẫn liên hệ mật thiết với nhau, chẳng những về phương diện địa lý vì cùng một sơn mạch mà còn liên hệ về mặt lịch sử, lịch sử nhà Tây Sơn.

Nhà Tây Sơn, trước khi khởi nghiệp đã dùng dãy núi Tây Sơn làm căn cứ quân sự. Và đạo quân tiên phong gồm hầu hết người Thượng.

Truyền rằng: Tất cả các bộ lạc ở vùng Tây Sơn đều theo tam kiệt. Chỉ có người Thượng Xà Đàng ở vùng An Khê không phục. Để cho họ tin rằng mình người của Trời sai xuống trị thiên hạ, Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước.

Họ Nguyễn lấy một đôi giỏ bội mới, dùng giấy bổi quét dầu trong phất ở phía trong lòng giỏ. Rồi mỗi sớm gánh đôi giỏ xuống khe múc nước về. Người Thượng đứng ở xa trông thấy nước không chảy ra các lỗ giỏ, đều cho Nguyễn Nhạc là kỳ nhân. Nhưng viên chúa đàng cho rằng có phù phép, chớ không phải chân mạng đế vương.

Nhân trên núi Hiển Hách có bầy ngựa rừng, hễ thấy bóng người liền chạy trốn. Người chúa đàng bảo Nguyễn Nhạc nếu gọi được bầy ngựa ấy chạy đến thì mới thật là người Trời. Nguyễn Nhạc về nhà mua một con ngựa cái tơ thật tốt, dạy dỗ thật khôn, hễ nghe tiếng hú thì chạy đến. Đoạn đem thả ngựa vào núi cho theo bầy ngựa rừng. Ngựa rừng xúm lại "ve vãn" và luôn luôn kèm bên chân. Nguyễn Nhạc cất tiếng hú, ngựa cái chạy đến. Bầy ngựa rừng cũng chạy theo, nhưng vừa thấy bóng người thì quày trở lui. Song chạy được một đoạn xa xa, ngoảnh lại trông, thấy ngựa cái vẫn đứng với người một cách thân mật, thì dừng lại đứng ngó. Nguyễn Nhạc lấy bó cỏ cho ngựa cái ăn, rồi bỏ ra về. Bầy ngựa rừng bèn kéo đến ăn cỏ… hôm sau Nguyễn Nhạc lại đến hú và lấy cỏ cho ngựa ăn… Bầy ngựa rừng thấy người không có ý làm hại giống nòi, lần lần làm quen… Nguyễn Nhạc bèn đến tìm chúa Xà Đàng, hẹn ngày và nơi gọi ngựa.

Đến kỳ hẹn, Nguyễn Nhạc cùng chúa Xà Đàng và một ít bộ hạ đến núi Hiển Hách. Nguyễn Nhạc đứng giữa hai tảng đá dựng cao lút đầu người, và bảo chúa Xà Đàng cùng bộ hạ núp phía sau, im hơi lặng tiếng. Đoạn cất tiếng hú. Nghe tiếng chủ hú, ngựa cái từ trong rừng sâu chạy ra. Bầy ngựa rừng chạy theo sau. Nguyễn Nhạc lấy cỏ cho ăn. Đã quen người quen lệ, bầy ngựa rừng không chút sợ hãi. Nguyễn Nhạc vuốt ve con cái rồi từ từ đến gần bầy ngựa, vuốt mỏ vuốt lưng, hết con này đến con khác. Vì thấy ngựa cái đứng yên để vuốt ve, bầy ngựa rừng cũng vững tâm đứng yên ăn cỏ…

Người Thượng Xà Đàng thấy Nguyễn Nhạc "gọi" được bầy ngựa rừng, thì tin rằng là "Người Trời", nên thần phục và chịu theo đánh giặc.

Những người Thượng cũng như người Kinh, tuyển mộ được bao nhiêu đều đem về hòn Ông Bình và Ông Nhạc để tập luyện. Dinh trại đều cất trong hai núi này. Nguyễn Nhạc trấn thủ một núi, Nguyễn Huệ trấn thủ một núi. Vì vậy hai ngọn núi này mang tên hai vị chỉ huy: Ông Nhạc, Ông Bình.

Bình là tên chữ của Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Đối với Nguyễn Huệ, người địa phương ít hay gọi tên Húy. Lúc nhỏ thì thường gọi là "Chú Ba Thơm" (Hoa Huệ có hương), lớn lên lại thường gọi tên Chữ "Ông Bình". Tên Nguyễn Quang Bình tuy đã đặt từ trước, nhưng mãi sau khi lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu Quang Trung, đánh đuổi quân Mãn Thanh rồi, mới thấy xuất hiện trong sử sách. Sau khi vua Quang Trung thăng hà, miếu hiệu Thái Tổ Vũ Hoàng Đế, thì hòn Ông Bình được tôn xưng là hòn Thái Tổ.

Còn hòn Ông Nhạc thì người sau đọc trại là Ông Nhược.

Nhà Tây Sơn cử binh đánh nhà Nguyễn năm Tân Mão (1771). Trước khi cử sự, binh đóng ở hòn Ông Nhạc đều dồn qua hòn Ông Bình. Rồi đại binh kéo đến đèo An Khê làm lễ tế cờ khởi nghĩa.

Lễ tế cờ cử hành gần nơi cây Cầy và cây Ké. Cho nên tục có câu "Cây Ké phất cờ, cây Cầy khí cổ".

Cây Cầy hiện vẫn còn; còn Cây Ké đã bị chính quyền cũ, thời Ngô Đình Diệm, đốn lấy gỗ cất trụ sở. Ở các nước văn minh, Đông cũng như Tây, các di tích lịch sử đều được bảo tồn, coi là quốc bảo. Nếu hai cây lịch sử ở đèo An Khê được sanh ở một nước văn minh thì chắc được vun quến chăm coi, trừ sức tàn phá của thời gian, búa rìu không bao giờ nỡ chạm đến.

Những di tích Tây Sơn ở Bình Khê hầu hết đều bị nhà Nguyễn hủy hoại. Hai cây Ké cây Cầy, vì ít người để ý, nên mới còn sống. Nay lại chỉ còn có một cây.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:52 am

Trước khi xuất binh, Nguyễn Nhạc đã sai Nguyễn Lữ đi vận tải lương thực đến chân núi Đồng Phong. Khi xuống đến Đồng Phong thì lương thực cũng vừa tải đến. Nguyễn Nhạc cho đóng binh lại để phát lương và nghỉ ngơi để chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Tướng sĩ được lãnh lương thực tại Đồng Phong nên gọi núi Đồng Phong là hòn Lãnh Lương.

Từ hòn Ông Nhạc đến hòn Lãnh Lương, núi chạy dọc, xiên xiên xuống hướng Đông Nam. Nhưng đến địa đầu thôn Trinh Tường, núi lại quay ngang ra hướng Bắc, tạo thành hòn Hoành Sơn, tức là Núi Ngang, nằm theo hướng Tây Nam Đông Bắc.

Núi Ông Bình ngó ngay xuống Hoành Sơn và làm hậu tẩm cho Hoành Sơn vậy.

Hòn Hoành Sơn không cao (364 thước), nhưng dài và rộng. Phía Tây và phía Nam, dòng suối Đồng Tre và Chi Lưu ôm sát bên chân. Đường Quốc lộ 19 chạy dài ở phía Bắc. Trước mặt, đồng Trinh Tường tiếp đồng Phú Phong, và bên chân một con hương lộ chạy từ Bắc vào Nam, hợp cùng quốc lộ 19 và hai nhánh suối Đồng Tre, thành một chữ nhật làm ranh giới cho núi.

Mộ của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn tam kiệt, nằm trong hòn núi này.

Truyền rằng:

Niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1740-1786), trong khoảng Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) trị vì miền Nam, có một ông thầy địa lý Trung Hoa, tục gọi là thầy địa Tàu, thường ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc theo rình xem. Một hôm thấy thầy địa đến Hoành Sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống in nhau, đem cắm nơi triền phía Đông, một cây ngoài Bắc, một cây trong Nam, rồi bỏ đó mà đi thẳng.

Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa, và thầy địa Tàu không tìm ra huyệt tinh nên tìm cách để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía Bắc héo lá rồi khô dần. Còn cây bên Nam, đến ba tháng vẫn còn sống và tươi tốt như lúc mới trồng. Đó là chứng ứng cho biết rằng long huyệt nằm ở đó. Nguyễn Nhạc hết sức vui mừng, bèn nhổ cây khô cắm vào chỗ cây sống, và đưa cây sống đến cắm vào chỗ cây khô…

Mươi hôm sau, tính đúng một trăm ngày từ khi trồng trúc, thầy địa Tàu đến. Thấy hai cây trúc đều chết cả hai, thầy địa nhún vai trề môi, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Bởi thầy cho rằng đó chỉ là "giả cuộc" mà thôi.

Nguyễn Nhạc bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía Nam.

Lại có người bảo:

Thầy địa lý Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc đến vùng Tây Sơn "tìm long điểm huyệt", thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn, và chính Nguyễn Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. Đi khắp cả vùng núi Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến hòn Hoành Sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy lần, hết đem đặt địa bàn ở chỗ này thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính toán, có vẻ đắc ý lắm. Đoạn thầy bỏ đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau thầy trở lại và cũng ghé nghỉ nơi nhà Nguyễn Nhạc. Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy có mang theo một chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc khăn điều.

Đoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được "huyệt mả đại phát" nơi Hoành Sơn nên về Tàu hốt cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp ra, thậm chí cả những lúc "đi sông đi bãi". Nguyễn Nhạc đóng một chiếc trắp giống hệt chiếc trắp của thầy địa, và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem dấu sẵn nơi chân Hoành Sơn…

Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén mang chiếc trắp cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn. Vừa đến chân núi thì một con cọp tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm lên một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy tàu hết hồn, quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc trắp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra…

Chôn cất xong yên thầy trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc trắp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc và con cọp kia chỉ có lốt ngoài mà thôi.

Hai thuyết không biết thuyết nào đúng.

Hai bên chỉ khác nhau ở chi tiết. Cả hai đều đồng một điểm chính là mộ của Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.

Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía Tây Nam (mộ thì gối đầu ở dãy Tây Nam, còn núi thì gối đầu nơi hòn Ông Bình) và lấy hòn Hương Sơn ở Kiên Thạch (Bình Khê) làm nội án, hòn Mò O (An Nhơn) làm ngoại án. Hai hòn này nằm xiên xiên hướng Đông Bắc hòn Hoành Sơn.

Vì có mộ của Nguyễn Phi Phúc, nên Hoành Sơn được tôn xưng là Thiếu Tổ.

Các thầy địa lý Việt Nam cũng như Trung Hoa đều công nhận cuộc đất Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút nào nghiên nào ấn nào kiếm, nào cổ nào chung, ở hai bên tả hữu. Trước mặt trên ba nổng gò, đá mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu chực. Và xa xa có hổ phục long bàn.

Không phải khoa ngôn:

Bút đó là hòn Trưng Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.

Nghiên đó là hòn Hợi Sơn tục gọi là Hòn Dũng trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trưng Sơn ở phía Bắc.

Cũng như hòn Hoành Sơn và hòn Trưng Sơn, hòn Hợi Sơn không cao lắm (491 thước), nhưng trông đồ sộ uy nghiêm. Trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng. Vì núi có vũng nước nên đám bình dân gọi núi là Hòn Vũng thay vì Hòn Dũng.

Còn đám hàn mặc thì coi vũng nước là nghiên mực của trời, nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn, tức Hòn Nghiên vậy.

Lên chơi Hòn Nghiên, Định Phong có mấy câu cảm hứng:

Trên non có nước,
Gắng bước mà lên.
Nước non còn nợ chớ quên
Lòng trong với nước gan bền cùng non.
Trời Tây mây kéo hoàng hôn,
Biển Đông thấp thoáng sóng dồn bình minh.
Nghiên son mài ráng lung linh,
Bút tuôn hàng nhạn chép tình nước non…
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:54 am

Hòn Nghiên và Hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn, trông thật cân đối. Khách thơ ví von Hoành Sơn như bức bình phong, còn hai hòn Bút Nghiên là hai trụ ba biểu đứng hai bên, hơi lấn ra phía trước một ít.

Sát bên chân hòn Hoành Sơn lại có hai hòn núi nhỏ đứng song song, giống hệt bộ chuông trống nho nhỏ để chiếc áng thờ. Đó là Hòn Một và Hòn Giải. Cổ nhân gọi Hòn Một là Chung Sơn tức Hòn Chuông, Hòn Giải là Cổ Sơn tức Hòn Trống.

Cổ nhân đặt tên không phải dựa vào vị trí, nhưng dựa vào hình dạng.

Hòn Một trông phảng phất quả chuông đồng.

Còn Hòn Giải thì đứng ở phía Bắc trông vào thì dáng tròn tròn như cái trống. Nhưng đứng phía Đông mà ngó lại thấy hơi vuông vuông như một chiếc ấn. Vì vậy, Hòn Giải còn có tên nữa là Ấn Sơn tức Hòn Ấn.

Đặt cho Hòn Giải tên Ấn Sơn chẳng phải chỉ vì hình dáng mà còn vì ở phía Đông, nơi vùng Gò Sặt (Trinh Tường) có một hòn núi thấp và dài gọi là hòn Kiếm Sơn tức Hòn Kiếm. Có kiếm thì phải có ấn mới đủ đôi.

Có người bảo rằng núi mệnh danh là Hòn Ấn, Hòn Kiếm, không phải do hình dáng mà do một sự kiện lịch sử.

Truyền rằng:

Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành Sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc cùng phát tướng. Gương mặt trông sáng rỡ, và việc học hành, võ cũng như văn tiến bộ lạ thường. Thầy học là cụ giáo Hiến một người miền ngoài, giỏi văn lẫn võ, lại rành khoa tướng số trước kia vốn đã có biệt nhãn cùng ba anh em họ Nguyễn, nay thấy thần sắc, biết vận trời đã đến, bèn đem câu sấm "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" ra khuyên Nguyễn Nhạc về lo mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, ba anh em trở về Kiến Thành lo chiêu mộ hào kiệt.

Vùng đất Tây Sơn xưa kia núi rừng rậm rạp, chuyện thần linh quỷ dữ lan tràn khắp đó đây. Để qui tụ lòng dân, Nguyễn Nhạc bèn lợi dụng óc mê tín của quần chúng.

Hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc tuy ở gần thôn xóm, nhưng ít ai dám lên vì sợ "mả mẹ chàng Lía" và nhất là sợ cọp. Thỉnh thoảng Nguyễn Nhạc cho người tâm phúc lên núi, nửa đêm nổi trống nổi chiêng. Người quanh vùng cho rằng hồn chàng Lía về cúng mẹ, người lại bảo đó là quỉ thần mở hội vui. Kẻ bàn người tán, không mấy lúc tiếng bay tận ngàn xa, một thành mười, mười thành trăm. HònTrưng Sơn từ xưa đã có tiếng càng thêm nổi tiếng.

Một hôm, nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông đúc. Cỗ bàn vừa ăn xong thì trời đã khuya. Những người ở xa đều phải nghỉ lại, còn người quanh xóm thì lục tục ra về. Bỗng trên Trưng Sơn, tiếng trống tiếng chiêng vang dội, và trong bóng cây trên đỉnh, ánh lửa lập lòe. Ai nấy đều kinh dị, Nguyễn Nhạc rủ người lên xem "quỉ thần làm trò gì". Phần đông đều e ngại. Chỉ bốn năm tay lực sĩ xin theo.

Nai nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm, đoàn người lần lần bước lên đỉnh Trưng Sơn. Khi đến gần đỉnh, trong ánh lửa mập mờ hiện ra một ông lão râu ba chòm bạc phếu, đầu đội mũ cánh chuồn, mình khoát áo đại bào, chân đi hia, bộ dạng giống hệt một ông lão văn trong các vở tuồng hát bội. Ai nấy đều ớn lạnh vì sợ, và không ai bảo ai, mọi người đều dừng lại một lượt. Ông lão cất tiếng bảo:

- Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc chăng? Nếu có thì hãy lại gần đây nghe lệnh. Còn các người khác hãy đứng yên.

Nguyễn Nhạc run sợ bước ra, đến quỳ trước mặt ông lão. Ông lão phất tay áo, lấy ra một tờ chiếu rồi đọc lớn:

- Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc Vương.

Đoạn trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước đi vào trong bóng tối.

Từ ấy tiếng đồn khắp nơi, và ngôi Quốc Vương của Nguyễn Nhạc nằm vững trong tâm trí quần chúng. Trong đám sĩ phu, trừ cụ Giáo Hiến, không mấy ai biết đó là kế của Nguyễn Nhạc.

Chưa lấy làm đủ, Nguyễn Nhạc còn tìm một thanh bảo kiếm và đúc một quả ấn vàng, rồi đem dấu trong vùng núi Trinh Tường.

Một hôm cùng bộ hạ ở An Khê về, đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy rẽ qua hướng Bắc để qua sông về Kiên Thành, lại chạy vào hướng Đông Nam. Đến chân núi phía trong Gò Sặt, cương ngựa bị đứt, Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy nổi. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới đỡ, khi đứng dậy để lên ngựa trở về, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên lấy thì là một thanh kiếm xưa lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là "của trời ban".

Về nhà, Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và thuộc hạ:

- Ngọc Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc Vương. Lẽ tất nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi ta phải đi tìm ấn.

Đoạn tổ chức ngay lễ cầu đảo tại chân núi Hoành Sơn.

Cầu đảo ba đêm ngày. Đêm làm lễ ngày cho người đi tìm khắp nơi. Đã hai ngày liền, hàng trăm người chia nhau đi khắp các khe núi quanh Hoành Sơn, mà không có kết quả. Đêm thứ ba, lúc nửa đêm, tiếng trống hành lễ vừa dứt, thì một vòi lửa như một vòi pháo thăng thiên bay xẹt từ Hòn Một đến Hòn Giải thì rơi xuống. Tiếp đó một tiếng nổ nhỏ như tiếng pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ dội làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều thất kinh. Sáng sớm, Nguyễn Nhạc đem người đến Hòn Giải xem, thì thấy sườn núi phía Nam có một vùng như bị sét đánh lở và nám đen. Trèo lên xem thì một ấn vàng nằm trong kẽ đá tại nơi bị lở. Ai nấy đều tin là "ấn trời ban".

Việc được kiếm được ấn thêm vào việc Ngọc Hoàng ban sắc phong vương, làm thiên hạ tin một trăm phần trăm rằng: "Nguyễn Nhạc quả có chân mạng"…

Nhân việc được kiếm được ấn mà núi mệnh danh là Kiếm Sơn và Ấn Sơn, tức Hòn Kiếm, Hòn Ấn.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:56 am

Cũng trong vùng Gò Sặt, phía trên Hòn Kiếm, có Hòn Ông Đốc, hình thù giống một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi không cao, và tuy trông giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu lâu đời. Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Cảnh nhân tạo thật là hợp với vẻ thiên nhiên.

Đó là điểm "hổ cứ" đã nói trên kia.

Còn "long bàn" là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây Bắc chảy xuống, một từ phía Tây Nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy.

Từ vùng Hoành Sơn trở vô, càng vô trong, núi càng cao, nhiều ngọn cao trên nghìn thước. Nhưng trừ các tay thợ rừng tuổi tác, người đồng bằng ít ai biết tên. Người ta gọi chung là Núi Xanh vì đứng ngoài trông vào sắc xanh như nhuộm lục.

Qua khỏi vùng Hoành Sơn, từ địa đầu thôn Phú Phong trở xuống Xuân Hòa, An Xuân, Thú Thiện thuộc huyện Bình Khê, đến Thọ Lộc thuộc huyện An Nhơn, núi dồn hẳn vào Nam, nhượng chỗ cho đồng ruộng. Trong vùng này núi non la liệt, chập chồng.

Được thường nhắc nhở trong văn chương là hòn Kính Sơn tục gọi là hòn Xà Kính, vì là chủ sơn trong nhóm núi Bình Phú (Phú Phong, Xuân Hòa, An Xuân).

Núi nằm trong thôn Phú Phong. Không cao (377 thước) nhưng dài và rộng. Sắc xanh mịt mịt và vẻ trông ngang ngạnh. Chung quanh, quần sơn bao bọc làm cho khí thế thêm hùng.

Ca dao địa phương có câu:

Nghênh ngang kìa ngọn Kính Sơn,
Tình chung đất nước không sờn nắng mưa.


Trong bài Vịnh Phú Phong của Trường Xuyên cũng dùng hòn Kính Sơn làm thi liệu:

Chàm pha núi Kính cây sum trái,
Lụa trải sông Côn nước khỏa dòng.


Và trong bài văn tế Nhạc mẫu, Định Phong cũng mượn Hòn Kính để gởi tâm sự:

Cành tang tử đã chen bóng núi, đỉnh Kính Sơn
không ngừng ngọn gió lay;
Trăng đoàn viên vừa rạng mặt sông, dòng Thái Thủy
bỗng nổi cơn sóng vỗ.


Phía Đông hòn Xà Kính có hòn Chóp Vàng, hình giống như Kim Tự Tháp, thân xanh màu chàm, ngọn vàng màu lá mạ.

Hòn Chóp Vàng thấp hơn hòn Xà Kính (370 thước), song vì đứng mói ra phía trước, nên đi ngoài Quốc lộ 19 nhìn vào trông cao hơn tất cả các ngọn núi trong vùng.

Nằm sau hòn Xà Kính có núi Xà Cù, tức là hòn Thiếu Lĩnh, đỉnh vượt hẳn lên trên đám quần sơn bốn bên (815 thước). Hình thù kỳ dị. Dưới chân thì chỉ có tranh săn và cây lúp xúp. Đến nửa chừng núi thì cây cối mọc dày, thân cao bóng cả. Càng lên cao cây càng to. Trên lưng núi lại có nhiều đá tảng chập chồng, và nhiều hang hố chứa đầy rắn rít. Đồn rằng có nhiều con rít lớn tày bằng bắp chân và dài đến mấy sải, và nhiều con rắn nuốt trọng được cả bò trâu. Người ta gọi rắn lớn như thế là Ông Dài.

Ông già bà cả thường kể chuyện rằng:

Trên hòn Xà Cù có những Ông Dài sống trên ngàn năm, lớn đến mấy ôm và dài đến hàng trăm trượng. Mắt sáng như chớp lạch, miệng rộng như cửa đình làng. Mỗi lần đi thì nổi gió làm cây ngã cát bay. Sức hút cũng ghê gớm. Lúc đói chỉ nằm há miệng, hễ thấy mồi trước mặt thì hút một hơi mồi liền chạy tuột vào miệng. Một hôm, một toán người, vừa mửng sáng lên Xà Cù cắt tranh, bị Ông Dài hút. May lúc bấy giờ bụng ông dài còn trống, đoàn người chạy thẳng phía sau đít mà chui ra.

Nghe kể lại như vậy, ai tin được thì tin cho vui.

Trên Xà Cù quả có nhiều rắn lớn rít lớn thật, song chỉ lớn hơn rắn thường rít thường gấp vài ba lần thôi, nhưng đến giống trăn thì lắm con nuốt sống nổi trâu nghé.

Tôi còn nhớ một năm (chừng lối 1922 hay 1923) vào khoảng tháng 10 âm lịch, trong khi nước lụt xuống ngập cả đôi bờ sông Côn thì nghe đồn rầm lên rằng "có rồng hiện nơi Cây Da Bến Gỗ thôn An Xuân". Thiên hạ kéo nhau đến xem: quấn chặt nơi rễ cây đa, một con vật kỳ hình, mình rắn vảy bạc, đầu tua tủa gạc nai. Nếu có thêm bốn chân với móng vuốt và bộ râu xồm xàm, thì hệt con rồng vẽ trong các bức tranh và ở các vách đình miếu. Phần đông đều tin là rồng giáng hạ. Nhưng sự thật đó là một con trăn to lớn đương nuốt một con nai chưa hết trọn. Con trăn ở trên núi Xà Cù, bị nước lụt trôi xuống Đồng Sim rồi trôi ra sông Côn. Đến Bến Gỗ, gặp rễ da, liền bám lấy chờ nước dựt mà trở về non.

Trăn cỡ ấy, những người đi săn, đi cắt tranh ở Xà Cù thường gặp. Họ không chút sợ. Chẳng những không sợ mà còn mừng, vì trăn càng lớn càng chậm chạp dễ đánh. Gặp được là phát tài, vì thịt trăn và da trăn rất có giá.

Vì nhiều trăn nhiều rắn nên núi mang danh là Xà. Còn Cù không biết ở đâu mà cùng Xà kết đôi lứa.

Phía trong hòn Xà Cù, có hòn Kiền Kiền.

Hòn Kiền Kiền không cao nhưng rậm (325 thước). Trên núi mọc toàn gỗ kiền kiền là một thứ danh mộc quí giá:

Bằng lăng tốt gỗ dễ cưa
So tài lương đống còn thua kiền kiền.


Do đó mà Kiền Kiền nổi danh.

Cũng như vùng Bình Tường (Trinh Tường), núi vùng Bình Phú càng vào trong Nam càng cao. Lắm hòn cao vút mây. Nhưng ngoài những tay thợ rừng cao niên, ít ai đi đến, nên hỏi tên cho biết, không mấy ai nói cho rành.

Vùng này núi cao hùng thắng. Có suối Hầm Hô và động Linh Đổng là hai thắng cảnh của Bình Khê nói riêng, Bình Định nói chung.

Đứng trước hai cảnh này, người Phú Phong thường hát:

Ngó vô Linh Đổng mây mờ,
Nhớ Mai Nguyên Soái dựng cờ đánh Tây.
Hầm Hô cữ nước còn đầy,
Còn gương phấn dũng còn ngày vinh quang.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 3:59 am

Mai Nguyên Soái nói trong thơ là nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng. Mai anh hùng được toàn thể tướng sĩ Cần Vương tôn làm Bình Tây Nguyên Soái, lãnh đạo nghĩa binh chống Pháp. Chiến khu chính lập tại vùng núi này. Cơ quan chỉ huy toàn tỉnh tại Lộc Đổng tức Đồng Hươu. Còn cơ quan bí mật đóng trong núi tại Linh Đổng.

Mật khu Linh Đổng do Thống binh Nguyễn Hóa trấn thủ, nên tục thường gọi là Hang Thống Nguyễn.

Linh Đổng (Đồng Le) ở phía Tây Lộc Đổng (Đồng Hươu) cách Hầm Hô chừng bốn năm cây số. Đường vào khúc khuỷu quanh co.

Linh Đổng còn có tên nữa là động Linh Phong, gồm hai hang, một trước một sau. Cả hai đều ăn sâu vào núi.

Hang Trước không rộng lắm, chứa cũng được vài chục người. Phía trước có một ngọn núi đứng dựng như một bức bình phong. Phía sau chảy quanh co một dòng suối. Qua khỏi suối đến Hang Sau. Hang này rộng gấp bảy, gấp tám hang trước. Miệng hang rộng đến vài bước, cao đến trên ba thước. Lòng hang bồng bềnh. Bóng mặt trời lọt qua các kẽ đá tỏa ánh sáng lờ mờ. Trước cửa cây cối mọc um tùm che khuất cả miệng hang.

Không phải người quen thuộc đường lối, không thể nào tìm ra được hang. Vì vậy sau khi nghĩa binh bị đại bại ở Bàu Sấu (An Nhơn), Mai anh hùng vào Linh Đổng ẩn náu, quân địch lùng kiếm hết sức mà không thể tìm ra tung tích.

Ở Linh Đổng có đường ra Lộc Đổng, mà cũng có đường sang Đồng Vụ là nơi tích trữ lương thực. Kho lương thực ở Đồng Vụ gọi là Nam Trại, thuộc Trinh Tường (Bắc Trại ở Thuận Ninh).

Đồng Vụ và Đồng Hươu hiện đồng bào ở đông đúc. Còn Linh Đổng, từ khi phong trào Cần Vương bị dập tắt, trừ một đôi người đi săn bắn, khách du quan ở xa cũng như người thường dân ở gần, không mấy ai dám đến, vì tiếng đồn nhiều cọp và rất linh thiêng, ai vào, nếu không bị cọp ăn thì cũng bị quỉ thần quở.

Vùng núi Bình Phú là đoạn đầu của dãy Nam Sơn.

Từ Phú Phong (Bình Khê) cho đến Thọ Lộc (An Nhơn) dãy Nam Sơn chạy thẳng về Đông. Nhưng đến khỏi Thọ Lộc thì chia làm hai nhánh, một chạy ra phía Đông Bắc, một chạy thẳng xuống Đông, giáp bờ biển Quy Nhơn.

Nhánh Đông Bắc gọi là Sơn Triều Sơn, chạy ra đến đường 19 tại Cầu Gành thì dừng lại. Hình giống lưỡi câu liêm ngửa lên hướng Tây Bắc, ngay hòn Trưng Sơn ở Phú Lạc.

Truyền rằng vì núi hướng về chầu hòn Trưng Sơn là nơi phát tích vua Thái Đức và vua Quang Trung, nên mệnh danh là Sơn Triều Sơn.

Trước mặt núi (Tây Bắc) là đồng bằng và một phần của sông Côn.

Phía sau lưng (Đông Nam) có một cái đầm ở thôn Dương Hội (Tuy Phước) tục gọi là Đầm Kim Ngân. Đầm mang tên như thế là vì xưa kia, nơi này cứ mỗi năm vào độ tháng giêng, người địa phương đốt giấy vàng bạc để cáo Sơn Thần trước khi vào núi hái củi. Đầm này (thường gọi là Đầm Dương Hội) thông lưu cùng Đầm Thanh Huy ở thôn Thanh Huy nằm về phía Đông. Nước hai đầm này do con suối từ Sơn Triều Sơn chảy xuống.

Phía Tây Nam có một đường đèo chạy từ đường 19 đến Dương Hội, gọi là Đèo Phú Quí.

Những ngọn núi trong nhánh Sơn Triều Sơn không cao (từ Đèo Phú Quí ra đến cuối dãy, không một ngọn nào cao đến 350 thước) mà cũng không rậm. Có một ngọn ở gần Đầm Kim Ngân, chỉ cao có 47 thước, tục gọi là Núi Bé. Cạnh đó (ở dưới chân Đèo Phú Quí) lại có một cái hố, tục gọi là Hố Giang. Phong cảnh của núi và hố không có gì đặc biệt, song danh đã theo câu ca dao ở địa phương mà bay xa:

Ngó lên Núi Bé ve kêu
Hố Giang nước chảy nhiều điều đắng cay.

(thường các bà các cô ở xa Núi Bé và Hố Giang cứ hát "Ngó lên Suối Bé…" là sai)

Phía Tây Đèo Phú Quí, về phía đường 19 có một hòn núi trọc, hình giống con cóc ngồi le lưỡi, tục gọi là Hòn Cóc. Hòn Cóc ngó ngay xuống làng Đông Viên thuộc xã Nhơn Thọ, An Nhơn. Từ xưa đến nay, người Đông Viên làm ăn rất cần mẫn, song vì đất đai càn táo, nên những nhà khá giả nhất cũng chỉ "đỏ lửa ngày hai". Người ta đổ thừa "tại Hòn Cóc le lưỡi liếm hết lộc trời". Cho nên có lời than rằng:

Đời sanh ra cóc làm chi,
Lộc Trời liếm sạch lấy gì nuôi dân!


Phía Tây Hòn Cóc lại có Hòn Gian. Đối với các hòn trong nhánh Sơn Triều Sơn, Hòn Gian cao hơn hết (538 thước). Hình núi đứng phía nào trông cũng vuông vức cân phân.

Truyền rằng xưa kia trên núi có một con rít to lớn, tu lâu đời đã có ngọc. Ban đêm ánh ngọc chiếu sáng cả đầu núi. Một người Tàu động lòng tham, tìm cách đoạt ngọc. Và đào một cái giếng sâu dưới chân núi, làm thịt gà bỏ xuống giếng nhử rít. Rít bắt mùi tanh tìm đến. Sợ ngọc dính đồ bẩn, rít thả ngọc trên miệng giếng, rồi mới bò xuống ăn. Người Tàu rình sẵn, lén đến cướp ngọc, rồi trốn đi… Vốn tu đã thành linh vật, rít tìm được nơi trú ẩn của gian hoa, cắn chết, lấy ngọc lại. Do chuyện cướp ngọc rít của tên Tàu kia mà núi bị mang tiếng là Hòn Gian! Kể thật phi lý. Người làm xấu mà núi mang nhơ. Lại càng phi lý hơn nữa là người Ngô "ăn" mà núi Việt "chịu"!.

Đi ngang qua Hòn Gian, nghe chuyện ngọc rít, Thi Nại Thị có ngẫu chiếm mấy câu:

Gian tham rước họa vào thân,
Non lây tiếng xấu kém phần thắm tươi!
Ngô làm Ngô chịu đáng đời,
Trách ai để Việt nhận lời thị phi!
Nước trong sẵn đấy,
Hãy rửa vết nhơ đi,
Kẻo trong thủy tú sơn kỳ,
Còn nghe mãi tiếng tử qui não lòng.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 4:01 am

Nhánh Sơn Triều khởi đầu từ Hòn Gian.

Còn nhánh chạy xuống Quy Nhơn mệnh danh là nhánh Dương An Sơn.

Đó là mượn tên hòn núi cao nhất và có danh nhất trong núi mà đặt tên.

Hòn Dương An Sơn nằm trong vùng Vân Canh, hình dáng kỳ đặc khôi hùng. Chu vi hơn trăm dặm, đỉnh cao chót vót, lúc nào cũng có mây vần (Không biết độ cao của núi là bao nhiêu; thời Pháp thuộc có nhiều lần chánh quyền cho người chuyên môn lên trồng bồ để đo, nhưng không thể lên thấu đỉnh). Cây cối sầm uất, phần lớn là danh mộc sống lâu đời và lớn từ một người ôm trở lên. Sườn núi dựng ngược và đá khối chập chồng, dù leo núi giỏi đến đâu cũng khó lên tới đỉnh.

Hòn Dương An không những làm chủ sơn trong dãy núi phía Nam Bình Định, mà còn làm chúa tất cả quần sơn trong toàn tỉnh. Niên hiệu Tự Đức thứ ba (1840), nhà vua ban cho núi tên Phước An và kê vào từ điển.

Vì làm chúa trong tỉnh, nên núi thường được tôn xưng là Núi Chúa hoặc Hòn Ông.

Trên núi có nhiều thú dữ.

Vì khó leo lại nhiều thú dữ, nên từ xưa đến nay thợ rừng chỉ làm súc ở dưới chân núi.

Truyền rằng:

Trên Hòn Ông có sơn thần trấn thủ, và thường có tiên thánh tới lui. Những đêm trời sáng gió trong, người địa phương thường thấy những luồng hào quang khi thì vàng, khi thì xanh, rộng và dài như một cây lụa đậu tư căng thẳng, bay từ Bắc vào hay từ Nam ra. Đến Hòn Ông thì từ từ hạ xuống. Liền đó ba tiếng sấm nổ vang. Kế đó trên núi, tiếng đàn tiếng địch đồng vọng trong ánh sáng lung linh, cho đến lúc trời mửng sáng.

Người trần bảo rằng đó là "thần tiên mở hội". Mỗi năm ít ra cũng một lần.

Những sơn thú, sơn cầm sống lâu năm đều qui tụ nơi Hòn Ông. Ngoài những cọp, beo, voi, gấu… có nhiều giống mãng xà sắp hóa rồng và nhiều con rít thân lớn như cột đình, sắc đen nhánh như huyền và răng có thể cắn vỡ đá trái. Những rắn rít trên núi, phần nhiều đều có ngọc. Cho nên ban đêm trên Hòn Ông luôn luôn thấy ánh sáng như ánh trăng, xanh xanh lạnh lạnh.

Hòn Ông tuy cây cối nhiều, nhưng trên đỉnh không bao giờ có lá rụng. Vì có bầy vượn canh voi, và chiều chiều cùng sớm sớm, hàng nghìn hàng vạn con công sè đuôi quét dọn, rồi từng bầy sơn điểu tha rác rến đem lấp nơi đồng hoang.

Những giống vật trên Hòn Ông đều tu hành, không bao giờ làm hại người lương thiện. Thợ rừng làm gỗ dưới chân núi, mỗi khi gặp cọp, gặp gấu… thì đứng nép bên đường, chắp tay "Mô Phật", là nạn khỏi tai qua. Nhưng bình sanh có làm chuyện gian ác thì dù có thắp hương mà lạy, thì cũng bị tát lở mặt, hoặc cấu thủng da. Bởi vậy, ai cũng cố làm lành, tránh điều dữ, một khi muốn đến Hòn Ông.

Trên núi lại còn có vườn tiêu mọc đủ thứ hoa thơm trái ngọt, mùi hương trộn gió bay ngát cả rừng sâu. Và những dòng suối trong như thủy tinh, chảy róc rách quanh năm không bao giờ cạn. Những ai có phước đến được để ăn trái ngon, uống nước ngọt, thở mùi hoa, thì nếu có bệnh, thì bệnh lành, bằng không có bệnh, thì thêm tinh thần, thêm sức lực. Nhưng chỉ được no lòng, uống đã khát, rồi thôi. Đừng có tham hái trái đem về, múc nước đem về, lòng tham sẽ làm cho mắt mờ, trí độn, không còn biết đường biết ngõ mà về nhà.

Hòn Ông đã có nhiều vẻ kỳ bí. Những huyền thoại càng làm cho kỳ bí thêm.

Người địa phương - người Kinh cũng như đồng bào dân tộc thiểu số - đều coi Hòn Ông là một Linh Sơn, thời nào cũng không dám xúc phạm. Đồng bào dân tộc thiểu số thì tuyệt nhiên không dám đi ngang.

Hòn Ông đứng giữa dãy Nam Sơn, chung quanh núi non la liệt, khói quyện mây tuôn. Nhưng đi trên Quốc lộ 1 và trên đường hỏa xa song hành, cũng như trên đường 19, chúng ta trông thấy rõ ràng: một cỗ bồng vĩ đại đơm đầy quả tử màu phi túy, khi tỏ khi mờ trong bóng khói trầm hương.

Cảnh trí tuyệt đẹp! Thật xứng đáng làm chúa tể các quần sơn trong mọi dãy Bắc, Nam, Tây.

Chung quanh Hòn Ông có nhiều núi cao và có danh. Như hòn Bà Cương hay Bà Phong tục gọi là Hòn Bà (chớ lộn với Bà Sơn tức Núi Bà ở Phù Cát), đứng trong Hòn Ông, phía Tây Bắc.

Hòn Bà là một ngọn núi cao nhất trong những núi cao về mặt Bắc dãy Nam Sơn. Nhưng đứng bên Hòn Ông thì mới "tới cổ". Bởi vậy ở địa phương có câu:

Hòn Ông đứng trong Hòn Bà,
Chồng cao vợ thấp đôi đà xứng đôi.


Và tuy cao lớn, Hòn Bà dáng trông hiền lành. Đồng bào dân tộc thiểu số ở trong vùng, không dám đi ngang qua Hòn Ông vì kiêng sợ, phải vòng ra phía trước Hòn Bà mà đi. Nên có câu phương ngôn "Sợ Hòn Ông qua hông Hòn Bà".
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 4:03 am

Đối trĩ cùng Hòn Bà có núi Tự Sơn tục gọi là Núi Am, cao suýt soát Hòn Bà (1122 thước).

Ba ngọn Hòn Ông, Hòn Bà và Núi Am đứng chung trong một vùng, ở giữa nhiều núi khác trong dãy. Đứng mói ngoài phía Bắc, đi ngoài quốc lộ 19 trông vào thấy toàn hình rõ dạng, còn một hòn núi nữa rất có danh: Hòn An Tượng nằm trong địa phận An Nhơn.

Hòn An Tượng không cao (trên 500 thước), hình giống con voi nằm, đầu hướng về Đông. Nơi "đầu voi" có hai vùng đá xanh lộ hẳn ra ngoài sắc cây xanh, trông in ái tai và mắt, điểm xuyết cho núi An Tượng thêm giống voi.

Nhìn hình thù hòn An Tượng khách làng thơ liên tưởng đến Triệu Bà Vương và Bùi Nữ Tường, nên có bài vịnh rằng:

Cây cối lông da, đá thịt xương,
Đúc hòn An Tượng dãy Nam Cương.
Vòi tung suối biếc mây dồn sóng,
Tiếng dội rừng sâu gió tét sương,
Cờ đỏ rạng danh Bùi Nữ Tướng,
Bành vàng roi dấu Triệu Bà Vương.
An phần tuổi tác không vùng vẫy
Giữ vững nghìn thu chí tự cường.


Hình thù làm cho nhiều người để ý. Nhưng An Tượng nổi danh còn nhờ nhiều điểm khác.

Trước hết là di tích lịch sử:

Năm Kỷ Vị (1799) thành Quy Nhơn của Tây Sơn bị Nguyễn Ánh lấy, đổi tên là Bình Định thành, và giao cho Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu trấn thủ. Thành Quy Nhơn tuy bị mất nhưng quân Tây Sơn vẫn giữ các nơi hiểm yếu ở các miền núi như Dương An, An Tượng…

Tháng giêng năm Canh Tân (1800) Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng kéo quân vào đánh thành Quy Nhơn. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đánh không lại, đóng cửa thành cố thủ.

Được tin Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bị khốn, Nguyễn Ánh liền cử đại binh ra cứu viện, sai Nguyễn Văn Thành cùng Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Trương Tiến Bảo… đi đường bộ từ Phú Yên đánh ra, còn mình thì từ Thị Nại đánh lên. Quân đường thủy của Nguyễn Ánh không đổ bộ nổi. Quân của Nguyễn Văn Thành bị đánh lui mấy phen. Sau đó biết phía Tây Nam Núi Chúa có đường tắt, nên theo đường ấy đánh bọc hậu quân Tây Sơn đóng ở Núi Chúa. Còn Lê Văn Duyệt thì kéo binh đến đánh úp quân đóng ở An Tượng. Hai bên kịch chiến. Nhưng vì không đề phòng nên quân Tây Sơn bị thua. Song liền đó quân Trần Quang Diệu kéo đến đánh lấy lại Dương An và An Tượng; đuổi quân nhà Nguyễn ra khỏi đất Quy Nhơn.

An Tượng lại là nơi phát nguyên nhiều sông suối. Nên vùng đó gọi là Nguồn An Tượng. Nơi nguồn An Tượng, đồng bào Kinh thường đến mua bán cùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có lập thủ sở với chức Trấn Thủ Thừa Biện ở giữ. Niên hiệu Thành Thái thứ 11 (1899) triệt bỏ, lại đặt "mậu dịch thị trường" để thâu thuế.

Nhờ vậy mà các tầng lớp nhân dân ở xa cũng như ở gần phần đông đều biết tiếng An Tượng.

Chung quanh hòn An Tượng có nhiều ngọn phù dực mà hòn Thủ Đường nằm ở phía Tây Nam đáng để ý nhất.

Hòn Thủ Đường cao hơn hòn An Tượng (581 thước), song vì nằm phía sau nhiều núi khác nên đi ngoài quốc lộ 19 không trông thấy. Núi này liền với núi vùng Bình Phú.

Trong dãy Nam Sơn còn một ngọn núi nữa cũng được nhiều người để ý. Đó là hòn Chóp Vung, thuộc địa phận Tuy Phước. Đi ngoài quốc lộ 19 trông vào, thật giống chiếc vung úp sấp. Ca dao Bình Định có câu:

Ngó lên hòn núi Chóp Vung
Thấy hai con thỏ nằm chung với mèo.


Thật không ai hiểu ý nghĩa câu ấy như sao. Nhưng không phải là một câu hát "bắt vần" như nhiều người tưởng.

Những câu ca dao còn truyền lại đều có sở do. Mình không hiểu, không tìm ra, bảo càn rằng "vô nghĩa" cho "xong chuyện".

Hình dáng làm cho Hòn Vung được khách đi đường lưu ý. Nhưng chính câu ca dao "gần như vô nghĩa" kia đã đưa danh Hòn Vung đi xa.

Trong dãy Nam Sơn trừ Hòn Vung, hòn Núi Chúa và một số núi ở trong xa đỉnh nhọn, phần nhiều núi đi ngoài quốc lộ 19 trông thấy, đều có dáng tròn tròn, xa trông như một bầy voi khổng lồ chen nhau rất linh động. Chúng ta đi mau thì chúng chạy như bầy chiến tượng của bà Triệu bà Bùi xông trận. Chúng ta đi chậm chậm thì chúng là bầy "voi chàm" trong thơ Chế Lan Viên:

Giữa ngàn rậm, muôn cây chen lá thắm,
Voi Chàm đi lẳng lặng dáng uy linh
Cùng rung chuyển, dưới chân Ngài, rừng núi thẳm
Dưới chân Ngài rên rỉ lá vàng xanh.


Và nếu chúng ta dừng lại ngắm thì chúng ta thấy chúng vẫn "đi", đi để đến.

Nơi, một sáng Đồ Bàn vang tiếng hát
Muôn binh Chàm thắng trận giở quân về,
Đàn chiến tượng trong hương trầm man mác,
Càng oai hùng, lặng lẽ, nặng nề đi…


Khí thế dãy Nam Sơn, hùng tráng không kém dãy Tây Sơn và hình dáng đại để là thế.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 4:06 am

Và dãy Nam Sơn, với nhánh Dương An. Làm bức thành hoành tráng ngăn đôi Bình Định và Phú Yên. Nam Bắc liên lạc được với nhau nhờ có đèo Cù Mông mở lối.

Đèo Cù Mông nằm gần biển. Tuy không dốc như đèo An Khê nhưng dài và quanh co khó đi. Ngày xưa nơi đây tiêu điều vắng vẻ, nước độc mà thiêng, cực chẳng đã lắm người dân Bình Định mới lên xuống.

Ca dao có câu:

Tiếng ai than khóc nỉ non?
Vợ chàng lính thú lên hòn Cù Mông.


Trong sách "Quốc Văn đời Tây Sơn", ông Hoàng Thúc Trâm viết rằng:

"Từ năm Tân Mão (1771) Nhạc quật khởi ở thượng đạo ấp Tây Sơn (Quy Nhơn). Đến năm Mậu Tuất (1778) thì lên ngôi, kỷ nguyên là Thái Đức. Trong 8 năm ấy, đánh Cựu Nguyễn, chống quân Trịnh. Nhạc tất phải "động viên" số dân chúng ở miền mình đã kiểm soát, nhất là Quy Nhơn, để dưới cờ có thể có một số binh khá đông ngõ hầu mới ứng phó được với tình thế.

Trong gia đình quân nhân, khi tiễn chồng ra trận, lòng chinh phụ nào chẳng dặc dặc buồn, mắt chinh phụ nào là chẳng hoen mờ ngấn lệ. Lại thấy chồng phải trèo núi Cù Mông (Quy Nhơn) với bao vất vả nhọc nhằn, rồi dần chìm khuất trong lùm cây kẽ đá, người chinh phụ càng "Nhìn rặng núi càng ngơ ngẩn nỗi nhà" càng có thể òa lên mà than, mà khóc…"


Lý luận như thế nên Hoàng quân cho rằng câu ca dao sản xuất thời Tây Sơn khởi nghĩa, hoặc thời vua Thái Đức trị vì.

Vì là người địa phương, đã từng nghe cha ông kể lại, nên xin đính chính cho người ở xa biết rõ sự thật:

Khi nhà Tây Sơn dấy binh đánh binh tàn bạo của nhà Nguyễn thì nhân dân Bình Định hưởng ứng nhiệt liệt. Lính không đợi bắt, và đồng bào, một số tự nguyện theo quân lính ra nơi chiến trường ở phục dịch cho quân đội. Vì sao thế, vì là một ách chuyên chế được cởi, hai là vì những của cải đánh lấy được của bọn tham quan ô lại và của bọn nhà giàu sống trên mồ hôi nước mắt đám bình dân đều được chia một nửa, còn một nửa dùng làm quân lương.

Đến lúc vua Thái Đức lên ngôi việc đối xử với quân lính được chu đáo. Ca dao có câu:

Ơn vua Thái Đức chí tình
Cù Mông vắng vẻ nhưng mình vẫn vui.


Câu "Tiếng khóc nỉ non" kia có lẽ sản xuất thời Cảnh Thịnh, lúc cháu đã cướp ngôi bác, và đưa người Phú Xuân vào cai trị dân địa phương, cái óc "coi dân như rác" của nhà Nguyễn sống lại làm khổ nhân dân. Hoặc cũng có thể câu kia lúc Nguyễn Ánh đã cướp được thành Quy Nhơn bắt dân Bình Định đi lính để đánh lại quân của Cảnh Thịnh.

Lòng nhân dân Bình Định đối với nhà Tây Sơn luôn luôn vàng đá. Cho nên suốt 143 năm dưới ách cường quyền, người Bình Định vẫn thờ Tây Sơn tam kiệt tại đình làng Kiên Mỹ, mỗi năm cúng tế đến hai lần, vào mùa xuân và mùa thu, mặc dù bị bọn quan cai trị của nhà Nguyễn làm khó dễ.

Đến khi chết rồi mà còn thế, huống hồ lúc sống lẽ nào có lời than oán như kia.

Nơi đèo Cù Mông cũng có nhiều trận thư hùng giữa quân Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt trong năm Canh Thân (1800) lúc thành Quy Nhơn bị Võ Tánh chiếm đóng.

Từ Cù Mông trở xuống đến mé biển, núi tiếp nhau thành dãy. Nhưng từ Cù Mông trở ra, tuy sơn mạch vẫn liền, mà các ngọn núi thường đứng cách nhau dường không có mối liên hệ. Đỉnh núi lại không cao. Nên không được hùng. Tuy vậy thế vẫn hiểm. Nếu có quân đóng trong vùng thì địch khó qua nổi đèo Cù Mông vậy.

Đáng kể là hòn Sơn Chà ở Phú Tài (Tuy Phước). Núi không cao (339 thước) nhưng đồ sộ. Trên đỉnh có một thung lũng rộng chừng vài ba mươi mẫu Tây. Trong thung lũng có một ngôi chùa thờ Phật gọi là chùa Eo Mén, do bà Bá Liên, nhạc mẫu nhà văn hào Đào Tấn cất. Phong cảnh thanh u, khách bốn phương thường đến thăm viếng. Dưới chân núi có đầm Ngọc Châu, tục gọi là Bàu Cả, không lớn lắm nhưng nước vẫn lai láng quanh năm.

Ở đèo Cù Mông đi ra thì núi nằm bên trái, đầm nằm bên phải, nghĩa là núi phía Tây, đầm phía Đông.

Phía Đông Bàu Cả, một dãy núi không cao lắm (334 thước) chạy từ Vân Quang đến Phú Vinh. Núi này không có tên riêng, hễ chạy qua thôn nào thì lấy tên thôn ấy mà gọi. Dưới chân núi, về hướng Đông Nam, lại có một cái đầm nữa, là một đầm tư của một phú hộ ở Quy Nhơn là Bá Mười. Do đó, người ta gọi là đầm Bá Mười, hay đầm Thanh Cẩn, tên ông ta.

Núi này liền với núi vùng Quy Nhơn (trong đó có Hưng Thạnh, Xuân Quang…). Đèo Son ở địa đầu Quy Nhơn mở đường liên lạc từ quốc lộ 1 vào vùng phía trong.

Vùng núi phía Bắc đèo Cù Mông, thuộc Tuy Phước, phía Tây liên lạc với núi vùng Vân Canh, phía Đông giáp biển và phía Đông Nam thì liền với vùng núi phía Đông của Cù Mông. Cho nên ngó qua thời dường như rời rạc, nhưng sự thật vẫn liên lạc mật thiết với nhau, Đông cũng như Tây, Nam cũng như Bắc.

Trước khi xuống Quy Nhơn để chấm dứt núi non dãy Nam Sơn, tưởng cũng nên giới thiệu cụm núi nằm một mình ở phía Bắc quốc lộ, dưới Cầu Đôi, mà phía trước có hai ngọn Tháp Đôi cổ kính, đó là hòn Khố Sơn tục gọi là Núi Kho hay Núi Khố. Tuy nhỏ, thấp nhưng quan trọng, vì thời chiến thường dùng làm vọng đài coi chừng địch ở bốn mặt. Hiện nay núi đã bị phá. Trong vài năm nữa e biến thành một đám đất bằng. Nên ghi lại may có giúp ích cho người sau có lòng hoài cổ vậy.

Vùng núi Quy Nhơn, từ Hưng Thạnh, Xuân Quang xuống, không có ngọn núi nào cao, cũng không có hòn nào rậm. Nhưng có biển cả mênh mông, cát vàng, sóng bạc, làm cho khí thế dãy Nam Sơn thêm phấn khởi mãnh liệt, làm cho phong cảnh dãy Nam Sơn thêm ngoạn mục thích tâm.

Bàn về núi non tỉnh Bình Định, cổ nhân lấy thành Đồ Bàn làm Trung Tâm Điểm, và chia làm ba dãy:

- Dãy Bắc Sơn gồm tất cả các quần sơn từ Núi Bà trở ra Bến Đá.
- Dãy Tây Sơn là núi non trong huyện Vĩnh Thạnh - Bình Khê (xưa kia là một huyện)
- Dãy Nam Sơn là hai nhánh Phước An và Triều Sơn.

Vì đứng tại thành Đồ Bàn mà trông thì những núi phía Bắc, chỗ nối bù vào chỗ đứt, nơi thấp núp dưới bóng nơi cao, nên thấy núi liền giây, chập chồng đằng đằng.

Còn hai dãy Tây Nam thì bản thân vốn đã liền lạc thành hai bức tường thành có hai lớp lồng vào nhau.

Ba dãy núi ảnh hưởng với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, về mặt khí thế, hòa hợp với nhau bổ khuyết cho nhau về màu sắc đường nét. Dãy này ủng hộ dãy kia, dãy kia củng cố dãy nọ, tương y tương ỷ, tạo Bình Định thành một nơi thiên hiểm về mặt quân sự, thành một bức tranh tú vỹ hùng kỳ của đất nước Việt Nam muôn thuở.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 4:09 am

Những hòn độc sơn

Núi Bình Định thuộc hệ thống dãy Trường Sơn, thường nối tiếp nhau thành dãy dài, hoặc quây quần nhau thành khóm và hầu hết đều bằng đá và cây cối sum sê.

Nhưng rải rác đó đây, lại có những ngọn núi đất mọc lẻ loi giữa đồng bằng, như những cù lao ngoài biển. Những ngọn núi này phần nhiều là núi trọc và không cao. Nhưng có lắm ngọn có danh. Như hòn Hương Sơn chẳng hạn.

Hòn Hương Sơn (100 thước) tục gọi là Núi Thơm nằm tựa sông Côn về phía Bắc ngạn, giữa những cánh đồng rộng của thôn Kiên Thạnh ở phía Tây, thôn Trường Định ở phía bắc, thôn Vân Tường tiếp theo Trường Định chạy từ Tây Bắc, vòng qua mặt Bắc rồi quẹo xuống Đông Bắc, thôn An Chánh tiếp theo Vân Tường giăng dài ở mặt Đông, từ Bắc vào Nam, thuộc huyện Bình Khê.

Hòn Hương Sơn là một hòn núi đất sỏi càn táo, gai rậm cây thưa. Chỉ phía sông Côn và phía Kiên Thạch, từ chân núi lên gần đỉnh, cây cối sum mát. Đồng bào thôn Kiên Thạnh hầu hết đều cất nhà ở trên triền núi. Nhà cất từng tầng từng bậc, xa trông tưởng chừng nhà nọ chồng lên nhà kia, tranh có ngói có, ẩn hiện trong những đám cây xanh. Buổi mai bóng núi che mát. Lúc bình minh, lúc hoàng hôn, khói nấu cơm từ sườn núi bay ra lững lờ phơ phất. Đứng bên kia sông Côn xiên xiên về hướng Tây mà trông sang thật vô cùng ngoạn mục.

Dưới chân núi, vào khoảng cuối Kiên Thạnh đầu Trường Định, có một bàu nước rộng chừng vài ba mẫu ta, gọi là Bàu Um. Bàu này có điểm đặc biệt là rất nhiều ốc bươu. Mỗi buổi sáng ốc bươu bám vào rong nổi đặc cả mặt nước. Người trong thôn lấy một chiếc rổ thưa cột sào dài, luồn dưới rong mà với ốc. Mỗi bữa vớt cả thúng. Ốc ở Bàu Um đã lớn con lại không hôi bùn. Mua về ngâm nước cơm độ vài ba giờ về rửa cho sạch ruột, rồi um dầu mà đánh chén, thì dù đã giới tửu lâu ngày cũng phải tiếc rằng không gặp Lưu Linh để chung thú. Không biết có phải vì hương của ốc um mà bàu mang danh là Bàu Um chăng? Không ai biết rõ. Chỉ biết rằng ai đến viếng Hương Sơn mà không hưởng vị ốc um thì uổng lắm lắm.

Hương Sơn còn một sản phẩm nữa cũng đáng lưu ý. Đó là Xoài Tượng. Xoài Tượng Bình Định ngon nổi tiếng khắp Việt Nam. Nhưng phải nhượng xoài Đá Trắng ở Phú Yên, vì xoài Đá Trắng (rất hiếm) thịt cứng như xoài ngâm nước đá. Xoài mọc ở Hương Sơn, nhất là nơi triền núi phía Đông, chỉ kém xoài Đá Trắng một mười một chín. Đó là do thổ nghi.

Nhờ Xoài Tượng và Ốc Bươu mà tình khách "dân thiên" đối với Hương Sơn rất nồng đượm.

Đối với Hương Sơn tình nồng đượm không kém khách "dân thiên" còn có các thầy địa lý. Nhưng các thầy địa chiếu cố đến Hương Sơn không phải vì xoài tượng ốc bươu mà là vì địa hình địa cuộc.

Hình hòn Hương Sơn là hình con miên khuyển, tức là con chó nằm ngủ. Lưng ở trên Tây, bụng úp xuống Đông, đầu mỏ quặp vào bụng, vai cổ bày ở phía Nam, đùi đuôi khoanh ở mặt Bắc. Trong cao, ngoài thấp; phía Nam, phía Bắc ngắn hơn phía Tây, Đông. Nếu tìm được huyệt "Miên khuyển hoài trung" tức là lỗ rún của con chó ngủ" để gởi lại đống thịt xương khi về chào ông bà ông vải, thì con cháu nhất định phát lớn. Bởi vậy, thỉnh thoảng người địa phương trông thấy đôi người lạ mặt, Tàu có, Việt có, xách chiếc địa bàn bọc trong khăn gói vải đỏ, đi thơ thẩn trên triền núi, hết dọc rồi ngang. Chắc chưa thầy địa nào tìm thấy huyệt, vì bụng chó úp xuống đất, mắt quý thầy dù đeo kính sáng cũng không thể xuyên qua bao nhiêu lớp đất sỏi vừa cứng vừa dày.

Hương Sơn, dưới con mắt nhà địa lý là "Miên khuyển". Nhưng dưới con mắt nhà binh pháp, thì đó là con "ẩn báo" tức con beo nằm dấu hình, có thể dụng binh. Bởi vậy, nghĩa binh Cần Vương đã dùng Hương Sơn làm một cứ điểm quân sự. Và một dãy đồn lũy đã xây đắp nơi một cái eo ở giữa núi, gọi là Thứ Hương Sơn.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Núi non

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 4:12 am

Thứ Hương Sơn

Thứ Hương Sơn đã ngăn được bước tiến của giặc Pháp trong một thời gian. Nhưng rồi một việc thương tâm đã xảy ra làm hoen ố ít nhiều trang sử oai hùng của nòi giống!

Nguyên nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương là Bình Tây Nguyên Soái Mai Xuân Thưởng giao phó việc trấn thủ Thứ Hương Sơn cho ba người:

- Tham trấn Võ Phong Mậu, một cử nhân ở thôn Thuận Hạnh, quận Bình Khê tục gọi là Tham Mậu.

- Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì, một danh sĩ ở An Nhơn, đậu cử nhân, làm quan ở Huế, triều Tự Đức, vì không chịu nổi quốc nhục mà bỏ về vườn.

- Quản trấn Trần Tân tục gọi là Quản Nhã, một phú hộ ở thôn Trường Định, tánh hòa hiệp, võ tinh luyện.

Ông Tham Mậu và ông Quản Nhã tuy người cùng huyện, nhưng không ưa nhau, vì tâm tánh khác nhau. Tham Mậu điềm tĩnh, nhưng thâm hiểm, mưu mô, lại háo kỳ, háo tửu, háo sắc. Mặc dầu thân ở giữa ba quân, mà thói phong lưu vẫn đeo theo canh cánh. Ông Trần trái lại, tánh trung trực can cường và rất nóng nảy, lại ghét thói phong lưu như nhà nông ghét cỏ, thường đem lời chỉ trích Tham Mậu. Tham Mậu rất căm, nhưng chưa có dịp để làm hại.

Một hôm đương đi tuần được tin Tướng Nguyễn Cang bị tử thương, ông Trần hối hả chạy vào dinh quan Trấn Thủ báo biến. Nhằm lúc Tham Mậu cùng quan Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì ngồi uống rượu đánh cờ với nhau, ông Trần nổi giận thét:

- Giặc đến không lo đánh, tướng bị thương không lo đi cứu, cả ngày chỉ lo rượu với cờ.

Nói đoạn sấn tới giựt bàn cờ ném ra sân.

Đã căm sẵn, lại bị xúc phạm mạnh, Tham Mậu liền thét quân hầu bắt trói. Ông Trần đương giận càng giận thêm, không còn kể chi đến quân pháp, bèn la hét chửi mắng vang dậy. Tham Mậu liền buộc tội phản loạn, truyền quân đem chôn sống. Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì tuy không có hiềm khích chi với ông Trần, song bị làm mất thể diện giữa ba quân nên đồng tình để cho Tham Mậu hạ độc thủ.

Ông Trần vốn có một con ngựa Ô, vừa đẹp vừa khôn. Đó là một con chiến mã đã cùng con Hồng của Mai Nguyên Soái lập nhiều quân công. Con Ô thấy chủ bị nạn, liền bứt dây cương chạy thẳng về dậm chân hí thảm thiết, chưa biết chuyện gì thì có người tâm phúc đến báo tin dữ. Bà Trần liền sai người lên Phú Phong cáo cấp cùng Mai Nguyên Soái. Tức tốc, Nguyên soái phi ngựa đến Hương Sơn sai đào ngay ông Trần lên, nhưng đã quá muộn. Vừa thương, vừa giận, nhưng nước nhà đương khi cần người, không lẽ giết thêm hai tướng nữa, Nguyên Soái đành gạt lệ cắn răng, cho lập công chuộc tội.

Đó là vào năm Bính Tuất (1886). Sang năm Đinh Hợi (1887) nghĩa quân bị đại bại trận Bàu Sấu. Mai anh hùng tuẫn quốc. Phong trào Cần Vương tan rã. Võ Phong Mậu và Nguyễn Trọng Trì chạy thoát, ra đầu thú, được tha.

Tham Mậu về nhà chưa được bao lâu, một đêm nghe tiếng sột soạt trên đầu hè trên, bèn mở cửa ra xem, thì một con cọp tàu cau lớn như một con bò đực sức, nhảy đến vồ. Tham Mậu kêu cứu. Hàng xóm chạy đến. Con cọp liền vật Tham Mậu xuống đất, móc cuống họng, rồi bỏ xác lại mà đi. Người ta bảo rằng đó là ông Trần mượn cọp báo oán.

Còn bọn Pháp, sau khi dẹp loạn nghĩa quân, liền phá hủy tất cả căn cứ quân sự. Thứ Hương Sơn cũng như các đồn lũy, các nơi trong toàn tỉnh, đều bị phá thành đất bằng. Hiện nay chỉ còn dấu hào lũy khuất lấp trong đám bìm lau và một đống đá nằm gan lì cùng tuế nguyệt. Đi ngang qua Thứ Hương Sơn, Cổ Bàn Nhân có mấy câu cảm tác:

Bình Tây dù chẳng thành công,
Hương Sơn để dấu anh hùng ngàn thu.
Giận ai cưu mối tư thù
Cho gương phấn dũng bị lu ít nhiều!
Chuyện đời cỏ nhạt màu rêu,
Mùi hương chính khí gió chiều thoảng đưa.


Cách Thứ Hương Sơn chừng nửa cây số, về hướng Đông Bắc, có ba ngọn cổ tháp đứng sừng sững trên nổng gò sỏi cao nằm sát chân núi.

Thứ Hương Sơn tô điểm núi về mặt tinh thần.

Cổ tháp giúp cho núi thêm phần duyên dáng. Thật không khác nốt ruồi son trên má người thôn nữ. Khách phương xa đến du ngoạn, để ý đến Hương Sơn vì tháp nhiều hơn vì di tích lịch sử cận đại.

Thứ và tháp nằm tròn địa phận An Chánh và Vân Tường.

Ở phía sông Côn, trên miền núi mé Tây Nam, thuộc địa phận Kiên Thạch, trước đây có ngôi miếu thờ đức Khổng Tử, gọi là Văn Chỉ.

Miếu nằm ở lưng chừng núi. Qui mô rộng lớn. Lưng tựa vào núi, mặt ngó ra sông. Mái ngói tường vôi ẩn hiện trong bóng xoài xanh mát. Phong cảnh thật là thanh u cao khiết. Đi thuyền dưới sông Côn, hay đi bộ trên con đường núi chạy trước miếu, ngước mặt trông lên, ai cũng khen là cảnh trí rất hợp với tinh thần Nho giáo. Và trước cảnh vừa trang nghiêm vừa cao nhã, lòng người dễ hướng về đức Nhân.

Văn Chỉ Hương Sơn là miếu chung của các nho sĩ hai huyện Bình Khê và An Nhơn. Miếu dựng năm Thành Thái thứ 12 (1900). Sau đó các nhân sĩ trong hai huyện bàn rằng các nhà khoa mục đã già cả, phần đông lại ở bên kia sông, không thể lội nước trèo non đến đình tế được, bèn triệt hạ miếu, lấy vật liệu đem xuống An Nhơn, cất lại trên nền phủ cũ. Cảnh thanh cao trang trọng ngày trước không còn giữ được phần nào ở trong nơi thấp hẹp này. Có người than rằng:

- Một nơi bị người lo việc phàm tục chê bỏ đi, lại được người lo việc Thánh đạo lấy lại. Thế mới biết lúc thế vận suy vi, Đạo Đức phải chạy theo sau Quyền Thế.

Và nhân việc dời Văn Chỉ, một nhà Tây học cười:

- Té ra các vị nho sĩ hiện đại xây cất Văn Chỉ không phải vì đức Khổng Tử cũng không phải vì Thánh giáo, mà chính vì các nhà khoa mục.

Văn Chỉ tuy dời, nhưng vườn Chỉ vẫn còn, nền Chỉ vẫn chưa mất dấu. Những người ngưỡng mộ đạo Nho đi ngang qua Hương Sơn, thường dừng bước để tưởng lại cảnh thạnh vượng của thời xưa.

Như thế là Hương Sơn đã may mắn được giữ lại hai di tích quí báu của dân tộc: Nền Đạo Đức và Gương Anh Hùng, cùng một di tích lịch sử của văn hóa Chămpa: ba ngọn cổ tháp.

Hương Sơn phong cảnh tương đối ngoạn mục, lại có nhiều cổ tích, nên ngoài khách du lịch, các nhà văn nhà thơ cũng thường đến ngâm thơ vịnh trăng. Định Phong có một luật Vịnh Hương Sơn được nhiều người biết, rằng:

Ba mặt đồng xanh một mặt sông,
Non Hương đoanh lộn gió hương lồng.
Sườn cây điểm sỏi phơi vằn báo,
Dòng sóng chen mây ánh vẩy rồng,
Lũy chất trung can hàng đá dựng,
Nền xây thánh đức lớp rêu phong.
Cùng non tháp cổ bền mưa nắng,
Tiếng địch chiều hôm gởi nhớ nhung.


Hương Sơn đã được các di tích trang điểm, thì thanh danh đã có sẵn từ xưa, mỗi ngày chắc sẽ mỗi thêm bay xa và sáng tỏ.

Có người hỏi:

- Tên Hương Sơn là do tên Núi Thơm mà dịch ra Hán tự, hay là Núi Thơm do Hương Sơn mà sanh ra?

Thật khó trả lời một cách dứt khoát. Có người bảo:

- Tên Núi Thơm có trước. Chữ Thơm đây là cây Thơm chứ không phải mùi thơm. Vì trước kia trên núi mọc đầy cả Thơm Tàu. Người ở gần núi đến cắt tàu về lấy chỉ. Của vô chủ, ai lấy đều lo "bóc lột", chớ không ai chịu khó "vun quến" nên thơm bị tiêu diệt gần hết. Hiện chỉ còn lơ thơ đôi chòm. Hoàn cảnh Núi Thơm thật chẳng khác Trà Sơn. Khi lập Thứ nơi núi, nhân chữ Thơm, các Văn thân mới đặt tên Thứ. Lại có kẻ quả quyết: Núi Thơm là Hương Sơn có từ xưa. Và văn thân sẵn có tên đẹp đẽ mượn đặt tên Thứ là Hương Sơn. Từ ấy, núi mang luôn tên là Thứ.

Nghe nói thế thì hay thế, chớ không biết đâu mà cãi. Nghĩ rằng dù vì Thơm Tàu mà có tên Núi Thơm đi nữa, đó là thuộc về thời "tiền sử", tưởng nên cho qua để chấp nhận chữ Thơm là Hương của Thứ Hương Sơn, một điểm son trong trang lịch sử Việt Nam cận đại, hầu mong tiếng tăm của núi được thơm lâu và thơm xa hơn.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Next

Post a reply

Smilies
em22 em36 em26 em39 em29 em35 em31 em34 em32 :D :) ;) :( :o :shock: :? 8-) :lol: :x :P :oops: :cry: :evil: :twisted: :roll: :!: :?: :idea: :arrow: :| :mrgreen: :geek: :ugeek:
Quote Selected
 

Return to Nước non Bình Định (Quách Tấn)

Who is online

Users browsing this forum: Alexa [Bot] and 0 guests