Thắng cảnh cổ tích

Mà Đông là biển cả.
Ba mặt Nam Tây Bắc là ba dãy non xanh nối nhau lại thành hình một chiếc ngai rồng vĩ đại.

Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:24 am

Một tỉnh có thắng cảnh - cổ tích nhiều chừng nào thì nổi danh chừng nấy. Thắng cảnh và cổ tích ở Bình Định không hiếm.

Nhưng hầu hết du khách đến Bình Định, người trong nước cũng như người nước ngoài ngày xưa cũng như ngày nay, ai nấy cũng đều để ý trước nhất đến những cổ tích. Mà vì Đồ Bàn là đất cũ của Chiêm Thành nên cổ tích phần nhiều là dấu tích cũ của Chiêm Thành để lại. Những ngọn tháp cổ đứng sừng sững khắp đó đây và những dấu thành trì nằm dưới lớp rêu xanh sỏi đỏ.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:27 am

Các ngọn tháp

Ở Bình Định hiện còn 8 cụm tháp. Theo con Quốc lộ số 1 đi từ bắc vào nam thì trước hết chúng ta thấy hòn tháp Phú Lộc, tục gọi là Phốc Lốc, và Pháp gọi là Tour d'Or (Tháp Vàng).

Tháp đứng chon von trên ngọn thổ sơn tròn trịa, không cây cối, ở giữa cánh đồng lúa mênh mông, một nửa thuộc Châu Thành (Phù Cát), một nửa thuộc Nhơn Thành (An Nhơn).

Tháp trông có vẻ ngạo nghễ nhưng đượm sắc trầm tư.

Từ tháp Phốc Lốc đi vào một chặng đường nữa lại thấy một ngọn tháp thứ hai cũng cao ngất trời xanh và cũng nhuộm màu bể dâu như Phốc Lốc. Đứng xa nhìn hai ngọn tháp thật giống hai chiếc sừng tê giác phủ khăn đà. Có người lại bảo giống đôi đũa gắp mây trời qua lại.

Ngọn tháp thứ hai đó là tháp Cánh Tiên, chữ gọi là Tiên Dực, và Pháp gọi là Tour de Cuivre (Tháp Thau).

Tháp ở trong phạm vi thành Đồ Bàn cũ, thuộc huyện An Nhơn. Vì đứng trên một gò cao và rộng đến mươi lăm dặm nên ở xa ngó thấy tháp cao ngất, nhưng lại gần vì không thể nhìn thấu chân gò được, trông dường không lấy làm cao. Bởi vậy cảnh tháp ngó không được oai nghi bằng tháp Phốc Lốc. Và cũng như tất cả các cổ tháp khác, tháp này dưới chân đã bị nắng mưa xói mòn nhiều lắm, và trên chóp cũng có đôi chỗ sập hư.

Tháp ở cách miếu Song Trung thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu không xa, nên người địa phương có câu:

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương ông Hậu thủ thiền ba năm.


Và một nhà thơ đến viếng Cánh Tiên có để lại mấy vần ký thác:

Rồng thiêng tiên cỡi đi đâu?
Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa.
Cùng non tháp giữ tình xưa,
Trải bao dâu bể vẫn chưa núng lòng.
Đồ Bàn còn núi còn sông,
Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.

(Nói đến rồng vì có núi Long Cốt bên cạnh)

Qua khỏi Cánh Tiên, đi chừng mươi cây số thì thấy trên đỉnh núi sát bên đường một nhóm bốn tháp: một ngọn lớn ở trên cao, ba ngọn nhỏ ở dưới thấp, xa trông giống hình bốn chiếc bánh ít lá gai lột trần đơm trên mâm cổ bồng vun ngọn. Đó là tháp Thị Thiện, tục gọi là Bánh Ít, thuộc địa phận Tuy Phước, Pháp gọi là Tour d'Argent (Tháp Bạc).

Tại sao gọi là Thị Thiện?

Đại Nam nhất thống chí chép: "Tương truyền có bà Thị Thiện làm quán ở chân núi để bán bánh, nên gọi là tên ấy".

Tháp gọi là Thị Thiện, núi cũng gọi là Thị Thiện. Núi nằm trong địa phận Huỳnh Kim, Vạn Bửu, Phong Niên, Đại Lộc, thuộc quận Tuy Phước. Núi đất trơ trụi và không cao (177 thước) nhưng trông có bề thế.

Dưới chân núi Thị Thiện có con sông (một nhánh của sông Côn) chảy sát đường quốc lộ. Trên sông có cầu tục gọi là cầu Bà Di, nên đi qua tháp Bánh Ít, hành khách thường nghe hát rằng:

Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di,
Sông xanh núi cũng xanh rì,
Vào nam ra bắc ai cũng đi con đường này.
Nghìn năm gương cũ còn đây,
Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu.


Theo tiếng hát mà đi xuống tới địa đầu thành phố Quy Nhơn lại có tháp Hưng Thạnh, Pháp gọi là tháp Kmer (Cờ Me), người mình thường gọi là tháp Đôi.

Mang tên là tháp Đôi là vì tháp có hai ngọn đứng song song trên khoảnh đất liền, một ngọn cao một ngọn thấp, xê xích nhau bên chín bên mười. Tháp trông có vẻ hiền lành, khiêm tốn và đối với cảnh vật chung quanh coi bộ hòa hảo, chớ không có ý cô cao, độc lập như những ngọn tháp vừa qua.

Ở phía bắc tháp có một dãy núi chạy xuống và ở phía tây có một nhánh sông (chi lưu của sông Hà Thanh) chảy ngang. Trên sông có hai cầu, một cầu xe hỏa, một cầu ô tô bắc song song. Người ta gọi là cầu Đôi.

Tháp đã đôi mà cầu cũng đôi - cũng thật hữu tình quá. Bởi vậy những cặp tình nhân thường mượn cảnh cầu cảnh tháp để ngỏ nỗi lòng với nhau. Rằng:

Cầu Đôi nằm cạnh tháp Đôi,
Vật vô tri còn đèo bồng duyên lứa,
Huống chi tôi với mình.


Lại hát nữa rằng:

Tháp kia còn đứng đủ đôi
Cầu nằm đủ cặp, huống chi tôi với nường.
Tháp ngạo nắng sương,
Cầu nương sắt đá.
Dù người thiên hạ,
Tiếng ngã lời nghiêng,
Cao thâm đã chứng lòng nguyền,
Còn cầu còn tháp, còn duyên đôi lứa mình.
Non sông nặng gánh chung tình.


Các ngọn tháp trên đây đều nằm hai bên Quốc lộ 1, Quốc lộ 19, khách du lịch đến thăm viếng được dễ dàng. Ở trái đường xe, cách Quy Nhơn chừng vài chục cây số, có tháp Long Triều ở tại thôn Xuân Mỹ và tháp Thanh Trúc ở thôn Bình Lâm. Cả hai đều thuộc Tuy Phước, đường khó đi nên ít người đến viếng.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:41 am

Nếu theo dòng sông Côn đi ngược về hướng tây, cách Quy Nhơn chừng ba chục cây số, chúng ta được xem hai cụm tháp nữa là tháp Thủ Thiện và tháp Dương Long.

Tháp Thủ Thiện, người Pháp gọi là Tour de Bronze (Tháp Đồng) đứng trên một dãy gò thấp, chung quanh ruộng nương, làng xóm, thuộc thôn Thủ Thiện xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn. Tháp đứng một mình, trên đỉnh có một cây đa cổ thụ, cành lá sum sê, đứng lắc la lắc lẻo, làm cho cảnh tháp trông thêm phần cổ kính.

Tháp Thủ Thiện ở bên nam ngạn sông Côn, cách sông chừng một cây số. Tháp Dương Long ở bên bắc ngạn sông Côn và cách tháp Thủ Thiện chừng bốn năm cây số.

Tháp Dương Long gồm có ba ngọn đứng ngang nhau trên một nổng gò cao, một nửa thuộc thôn Vân Tường, một nửa thuộc thôn Trường Định, quận Bình Khê. Ngọn tháp chính giữa cao hơn hai ngọn hai bên, một mười một tám. Người Pháp gọi tháp này là Tour d'Ivoire (Tháp Ngà).

Trong các tháp ở Bình Định, tháp Dương Long ít hư hơn hết và cũng đẹp hơn hết.

Về mặt kiến trúc, tháp này về kiểu thức cũng như về cách xây dựng không khác mấy các tháp trong nước, trong tỉnh: cũng xây bằng gạch nung đỏ nhưng không thấy dấu hồ, cũng chân vuông đỉnh nhọn, kiên cố hoành tráng. Song ở những hình chạm trổ trên đá xanh nguyên khối, trang trí nơi cửa tháp, bốn phía tháp và trên đỉnh tháp trông vẫn còn rõ ràng như mới. Kỹ thuật điêu khắc thật tinh vi. Những con vật kỳ hình, dị dạng, những vị thần mặt mày dữ tợn, những vũ nữ đương múa…, được chạm khắc tỉ mỉ, đường nét mềm dẻo nhịp nhàng, trông linh động như sống. Các nhà khảo cổ nước ngoài đến Bình Định, đều tìm đến xem tháp này, ai nấy cũng đều công nhận là một trong những ngọn tháp đẹp trong các tháp Chiêm Thành còn sót lại trong các tỉnh.

Tháp Dương Long và tháp Thủ Thiện xưa kia làm móc ranh giới cho ấp Tây Sơn, nơi phát tích nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và vị nguyên soái lãnh đạo phong trào Cần Vương bốn tỉnh Bình, Phú, Khánh, Thuận Mai Xuân Thưởng, mà dấu thành lũy vẫn còn nơi núi Hương Sơn cảnh tháp.

Bởi vậy khách du lịch qua nơi này thường nghe hát rằng:

Vững vàng tháp cổ ai xây?
Bên kia Thủ Thiện, bên này Dương Long.
Nước sông trong,
Dò lòng dâu bể,
Tiếng anh hùng,
Tạc để nghìn thu…
Xa xa con én liệng mù,
Tiềm long hỏi chốn, vân du đợi ngày.


Những ngọn tháp của Chiêm Thành xây lên chắc để thờ phượng. Khắp miền Trung chỉ còn một ngọn tháp còn đủ tượng thần, bàn thờ và được người Việt Nam tiếp tục lễ bái là tháp Thiên Y-A-Na ở Nha Trang. Còn tất cả đều hoang phế. Trong các tháp Bình Định, ngoài những hình tượng trang trí, không còn thấy một tượng thờ nào, cũng không còn thấy dấu bàn thờ. Lòng tháp đều trống không, lâu lâu một viên gạch cũ rơi rụng, tiếng vang dội vào trong lòng những người hay cảm cổ thương kim.

Những cảnh tháp Chiêm Thành đã khơi nguồn hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác tập Điêu tàn giá trị. Chế quân đã "Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ" và còn gởi tình trong mấy vần thơ:

Đợi người Chiêm nữ

Tối hôm nay chị Hằng nghiêm nghị quá,
Dãy cây bàng đợi mộng, đứng im hơi.
Không một mối trăng ngà rung muôn lá,
Không một làn mây bạc vẩn chân trời.
Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo, lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi, bao tiếng mõ
Tan dần trong im lặng của đồng quê.
Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ,
Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng:
Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở
Một đôi cành tơ liễu nhúng trong trăng.
Nàng không lại, và nàng không lại nữa!
Cả thân ta dần tan trong hơi thở!
Ôi đêm nay, lòng hỡi biết bao sầu!
Kìa trời ca, trên mãi chín tầng cao,
Hồn ta bay trong một làn khói tỏa,
Chẳng biết rồi lưu lạc đến nơi nao?


Cùng với những ngọn tháp Chiêm Thành xưa, người Bình Định chung lòng hoài cổ. Bạn đến viếng cảnh, lòng tha phương chắc cũng không khác lòng địa phương.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:49 am

Các dấu thành cũ

Ở bên cạnh các tháp thường có dấu thành trì.

Bên cạnh tháp Dương Long có dấu thành Cha.

Bên cạnh tháp Thủ Thiện có dấu thành Sức.

Tháp Cánh Tiên thì nằm trong phạm vi thành Đồ Bàn.

Dưới chân tháp Phốc Lốc cũng có dấu thành, song không biết là thành của người Chiêm Thành xây từ trước, hay là của người Việt Nam mới xây lúc chúa Nguyễn dời phủ lỵ Quy Nhơn ra Châu Thành.

Ở thôn Phú Phong, huyện Tây Sơn, không thấy có dấu thành, song theo sách Đồ Bàn ký của Hoàng Giáp Nguyễn Văn Hiển, thì ở đó có thành Uất Trì. Thành ở nơi nào không ai biết đích xác. Hiện ở địa hạt Phú Phong có dấu thành ở tại Núi Xanh, tục gọi là thành Bá Bích, và ở trên đỉnh núi Chớp Vàng cũng có dấu thành và một số gạch vụn rất cổ, tục truyền là thành chàng Lía. Thành Uất Trì có lẽ là một trong hai nơi đó.

Những thành Uất Trì, thành Cha, thành Sức… không biết có phải là nơi các vua Chiêm Thành đã đóng đô hay không. Ai xây và xây thời đại nào? Không thấy sách nào nói rõ. Duy thành Đồ Bàn sách sử có nói tường tận, và hiện còn nhiều dấu tích đáng xem.

Thành Đồ Bàn

Thành Đồ Bàn tục gọi là thành Cũ, nằm trên dãy gò sỏi trùm hai thôn Nam An và Bắc Thuận thuộc huyện An Nhơn.

Thành do vua Chiêm Thành Ngô Nhật Hoan xây vào thế kỷ thứ X. Tường bằng gạch, mặt hướng về nam, chu vi hơn mười dặm, có bốn cửa, kiến trúc rất kiên cố. Bên trong có dựng tháp làm bảo chướng. Bên ngoài có dãy đồi Kim Sơn làm cánh che cửa Tây, có núi Long Cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậu. Ngoài xa nữa, khắp bốn mặt lại có núi trùng điệp sông quanh co, biển bát ngát triều ủng. Khí thật là hùng, thế thật là hiểm.

Địa thế của Đồ Bàn rất có lợi cho Chiêm Thành về mặt quân sự.

Vào cuối thế kỷ thứ XIII, vua nhà Nguyên muốn đánh chiếm nước Việt Nam, bèn sai con là Thoát Hoan cùng Toa Đô, Ô Mã Nhi lãnh 50 vạn quân Nam tiến. Quân Nguyên chia làm hai đạo, một đạo do Thoát Hoan chỉ huy, đánh thẳng sang Việt Nam, còn đạo thứ nhì gồm mười vạn thủy quân, do Toa Đô làm tướng đi đường biển vào đánh Chiêm Thành để rồi tiếp ứng đạo quân Thoát Hoan.

Quân Toa Đô rầm rộ đột nhập Thị Nại. Bị đánh thình lình, quân giữ Thị Nại bị thua. Nhưng quân Toa Đô vừa kéo lên bờ thì quân Đồ Bàn chận đánh, quân Thị Nại tập hợp lại được liền đuổi theo. Quân Toa Đô trước sau đều bị công kích, không chống nổi, phải kéo nhau chạy bộ ra Bắc và khi đến địa phận Việt Nam thì bị quân nhà Trần tiêu diệt.

Năm Bính Thìn (1376) Chế Bồng Nga đem đến Hóa Châu 15 mâm vàng để cống vua Việt Nam. Quân trấn thú Hóa Châu là Đỗ Tử Bình đã không đệ nạp, lại dâng sớ nói dối rằng vua Chiêm Thành tìm đến nhục mạ, xin vua cử binh đánh phạt. Vua Duệ Tông nghe lời, sai Hồ Quý Ly đốc vận lương thực đến cửa biển Di Luận (Quảng Bình), còn tự mình đem 12 vạn quân vừa thủy vừa bộ đi thẳng vào Nhật Lệ. Đến Nhật Lệ nhà vua đóng binh một tháng để thao diễn.

Qua tháng giêng năm sau, tức năm Đinh Tý (1377), nhà vua mới tiến quân. Binh Trần tiến vào cửa Thị Nại, khí thế rất mạnh. Quân Chiêm Thành không kháng cự, bỏ thủy trại rút hết lên thành Đồ Bàn. Quân nhà Trần lấy được đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang, rồi kéo lên đánh thành Đồ Bàn.

Chế Bồng Nga làm cừ sắt ngoài thành, rồi làm kế dụ, cho người sang dinh Trần trá hàng nói rằng Chế Bồng Nga liệu thế không chống cự nổi, đã bỏ thành chạy trốn rồi. Trần Duệ Tông tưởng thật, hạ lệnh tiến binh. Vừa đến chân thành Đồ Bàn thì bị phục binh ùa ra vây thành. Quân ra không đề phòng bị đại bại. Vua Trần Duệ Tông tử trận. Tướng sỹ lớp bị giết, lớp bị vướng phải cừ sắt, mười phần chết đến bảy tám.

Năm Quý Mùi (1403) Hồ Hán Thương sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem quân thủy bộ cả thảy 20 vạn vào đánh Đồ Bàn. Quân nhà Hồ vây thành hơn một tháng, mà hạ không nổi. Đợi lúc quân nhà Hồ cạn lương, quân Chiêm mới mở cửa thành kéo ra. Sức quân nhà Hồ đã kiệt, sức quân Chiêm Thành nuôi dưỡng đương mạnh, nên chỉ đánh có một trận mà quân Chiêm Thành đã đuổi được quân nhà Hồ.

Thành Đồ Bàn giữ được là nhờ địa lợi.

Nhưng về sau khí vận Chiêm Thành xuống lần lần, cho nên năm Bính Dần (1446), vua Lê Nhân Tông sai Lê Thụ và Lê Khả đem đại binh vào đánh Đồ Bàn, vua Chiêm Thành là Bi Cái không chống nổi, bị bắt đem về Thăng Long. Thành Đồ Bàn bị lấy, nhưng vua Lê trả lại cho người Chiêm và lập người khác lên làm vua thay thế Bi Cái.

Đến năm Canh Thìn (1470) vì vua Chiêm là Trà Toàn gây sự, vua Lê Thánh Tông cử hơn hai mươi vạn tinh binh vào đánh Chiêm Thành. Đến Thuận Hóa, vua đóng quân lại, một mặt cho thao luyện binh sỹ, một mặt sai người vào Đồ Bàn vẽ bản đồ để biết rõ địa thế.

Rồi tiến binh cả hai mặt, thủy bộ, một lần.

Quân nhà Lê cứ nhắm những nơi hiểm yếu mà tấn công. Quân Chiêm Thành chống không lại, rút vào thành Đồ Bàn chống giữ. Thành trì tuy kiên cố, song nhuệ khí quân Chiêm đã nhụt vì vừa bị thua, và sức lực quân nhà Lê đương hăng vì vừa được thắng, nên chỉ mấy hôm công phá, đã hạ được thành Đồ Bàn và bắt sống được Trà Toàn.

Vua Lê Thánh Tông lấy đất Đồ Bàn sáp nhập vào đạo Quảng Nam, làm một phủ đặt tên là Hoài Nhân. Thành Đồ Bàn dùng làm phủ lỵ và gọi là thành Hoài Nhân.

Sang thời chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp, năm Ất Tỵ (1605), Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài Nhơn làm Quy Nhơn.

Năm Tân Mão (1651), chúa Nguyễn Phúc Tần đổi Quy Nhơn làm Quy Ninh. Nhưng đến năm Tân Dậu (1741) chúa Nguyễn Phúc Khoát lại lấy lại tên Quy Nhơn và sang năm Giáp Tý (1744) bỏ thành Đồ Bàn cũ, dời phủ lỵ ra thôn Châu Thành.

Đến đời Tây Sơn, năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Quy Nhơn là kinh đô và sửa sang thành Đồ Bàn làm kinh thành. Thành lấy tên là Hoàng Đế Thành với quy mô rộng lớn. Thành xây toàn đá ong, cao một trượng bốn thước, dày hai trượng. Trước kia chu vi thành chỉ có mười dặm, nay mở thêm xuống mặt đông, chu vi nới thành 15 dặm. Thành cũ chỉ có bốn cửa, Nguyễn Nhạc trổ thêm một cửa nữa ở mặt thành phía trước, nơi mới xây thêm và đặt tên là Tân Môn. Còn cửa nam môn cũ gọi là Vệ Môn. Trong thành đắp nhiều thổ sơn dùng để xem thế giặc nếu rủi thành bị vây. Phía tây thành đắp đê Đỉnh Nhĩ để ngăn nước lụt. Phía tây nam đắp đàn Nam Giao để tế trời đất. Phía trong thành lại còn xây một lớp thành nữa gọi là Tử thành. Trong Tử thành, chính giữa dựng điện Bát Giác là nơi vua ngự. Phía sau dựng điện Chánh tẩm, phía trước dựng lầu Bát Giác, bên tả bên hữu dựng hai tự đường, một thờ cha mẹ ruột, một thờ cha mẹ vợ của nhà vua. Trước lầu Bát Giác lại có cung Quyển Bồng và liền với mặt nam tử thành có cửa Tam Quan gọi là Quyển Bồng Môn, xây cổ lầu nên cũng gọi là Nam Môn Lâu. Trong thành và ngoài thành bài trí la liệt những tượng đá, nào voi nào nghê, nào nhạc công nào vũ nữ, là những di tích của người Chiêm Thành còn lưu.

Thành lúc bấy giờ thật là nguy nga tráng lệ.

Nguyễn Nhạc giữ ngôi vua ở Hoàng Đế Thành được 18 năm.

Đến năm Quí Sửu (1793), Nguyễn Nhạc chết, thành Đồ Bàn lệ thuộc Phú Xuân, không còn là kinh thành nữa. Tên Hoàng Đế Thành bỏ và lấy lại tên Quy Nhơn.

Năm 1799, Nguyễn Ánh lấy được thành Quy Nhơn, và đổi tên là Bình Định.

Thành Đồ Bàn mang tên Bình Định bắt đầu từ đấy.

Nguyễn Ánh giao thành cho hai tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân từ Phú Xuân vào đánh, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đánh không lại nên đóng cửa thành trì thủ. Lâu ngày lương cạn, tướng sĩ mỏi. Liệu không giữ nổi nữa, Võ Tánh lên lầu Bát Giác tự thiêu và Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tuẫn tiết. Thành trở về nhà Tây Sơn. Nhưng không bao lâu, nhà Tây Sơn bị dứt (1802), thành Bình Định thuộc hẳn về nhà Nguyễn. Vua Gia Long bèn lập lăng cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu và dùng lầu Bát Giác làm nơi hương hỏa.

Thành Bình Định từ ấy trở thành lỵ sở của quan trấn thủ địa phương.

Năm Gia Long thứ 12 (1814) trấn thành dời vào phía nam, trừ lầu Bát Giác được sửa sang lại làm miếu Song Trung, các cung điện cũ đều bị triệt hạ. Đá ong của thành cũng bị dỡ đem xây thành mới.

Thành Đồ Bàn từ ấy chỉ còn trơ một dãy gò sỏi mênh mông với ngọn tháp Cánh Tiên và lầu Bát Giác.

Trước đây một xử sỹ đất Hoan Châu (Nghệ An) là Nguyễn Khôi, đi ngang qua thành cũ Đồ Bàn, có bài điếu cố, rằng:

Đế vương khấu lỗ vị thời lôn,
Nhất phiến phong quang kỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự lũng,
Tấn thân đình viện giá tang thôn
Cố khưu lưu lạc anh hùng phách,
Cô trủng thê lương tráng sỹ hồn!
Đa thiểu hào quang vân cọng tán
Duy dư tiên tháp lão càn khôn.


Phỏng dịch:

Ai vua ai giặc khôn bàn
Phong quang một mảnh ngỡ ngàng hôm mai.
Vườn dâu lấp nẻo cân đai
Nơi xưa ca viện vũ đài: Gò không
Mồ hoang lạc phách anh hùng,
Hồn thiêng tráng sĩ lạnh lùng gió sương
Mây tàn tàn cả ánh dương
Tháp tiên riêng vững can trường nghìn thu.


Bài điếu cổ trên có chỗ chép khác:

Đế vương khấu lỗ dĩ thời lôn
Cổ vãng kim lai hỷ hiểu hôn
Ca quản lâu đài hòa cự dã,
Tấn thân đình viện đố tang thôn
Cố khư liêu lạc anh hùng phách
Cổ lũy phiêu linh chiến sỹ hồn
Đa thiểu hào hoa vân quyện khứ
Duy dư tiên tháp lão kiền khôn.


Nghĩa là:

Rằng giặc rằng vua lý chẳng cùng,
Xưa qua nay lại phải rồi không.
Cân đai viện ngọc dâu đầy xóm,
Đàn hát đền hoa lúa mịt đồng.
Lũy cổ đìu hiu hồn chiến sỹ,
Gò hoang lạnh lẽo phách anh hùng.
Hào hoa nhiều ít mây bay sạch.
Tiên tháp tình riêng vững núi sông.


Thơ về Đồ Bàn còn nhiều nhưng toàn là thơ chữ Hán. Thơ Quốc âm chỉ thấy một bài của ông bạn Thọ Nguyên.

Trăm rưỡi năm trên một chiến trường
Bàn thành nay rặc dấu tang thương.
Tháp tiên dạm mặt nhìn sông núi,
Voi đá trơ hình ngạo nắng sương.
Thế cuộc trải xem bao mộng huyễn,
Anh hùng trông thấy một tòa hương.
Nồi da xáo thịt ôi nòi giống,
Trang sử trung hưng giọt máu hường.


Quang cảnh thành Đồ Bàn trước kia còn thế, huống hồ ngày nay đã dồn không biết bao nhiêu lần bể dâu.

Chuyện xưa lấp cỏ mờ rêu
Gót chân hờ hững mai chiều lại qua.


Mai chiều lại qua, khách vô tâm cớ ngờ đâu nơi đây, ngoài những chiến công oanh liệt, còn để lại nhiều sự kiện lịch sử mà khách du qua đó, nếu để lòng, lòng không dễ dửng dưng.

Kìa trên sắc cỏ màu cây héo hắt, trông mơ màng vẻ tiều tụy của công chúa Huyền Trân vì non sông mà phải vào đây... Và những khi đêm nguyệt mờ sương, bờ lau hắt gió, bồi hồi thổn thức, dường đâu đây ca khúc Nam Bình:

Nước non nghìn dặm ra đi…
Mối tình chi?
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly…
Xót xa vì đương độ xuân thì…
Độ xuân thì
Bởi oan khiên hay là nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết
Cũng liều như hoa tàn nguyệt khuyết,
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca sao còn lận bận nghe gì?
Tiếng chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng, bóng như hoa quỳ
Nhắn một lời Mân Quân:
Nay mà như nguyệt
Đặng vài phân
Vì lời cho dân.
Tình đem lại mà cân:
Đắng cay muôn phần.


Tình thật là não nùng. Nghĩ đến cảnh Huyền Trân, người địa phương có câu:

Má hồng đền nợ quân vương,
Những tay chống đỡ miếu đường là ai?
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:51 am

Thương người thục nữ vì nước quên mình, chúng ta không khỏi thầm trách khách anh hùng vì mình suýt cắt đứt tình cốt nhục: Hai anh em vua Tây Sơn, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Nguyên sau khi dẹp xong họ Trịnh ở miền bắc, hai anh em bất hòa nhau về việc chia nước non. Nguyễn Huệ ở Phú Xuân kéo quân vào Quy Nhơn đánh Nguyễn Nhạc. Quân Phú Xuân chiếm các nơi hiểm yếu, rồi đặt súng thần công trên dãy Long Cốt bắn vào thành Đồ Bàn. Nguyễn Nhạc bị khẩn, làm lễ tạ Thế Miếu, rồi lên thành kêu em mà khóc rằng:

Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn

Nguyễn Huệ động lòng khóc theo, rồi rút quân. Từ ấy hai anh em lại hòa thuận như cũ.

Nhân câu nói của Nguyễn Nhạc, bà thân sinh nhà thơ địa phương Cổ Bàn Nhân diễn dịch ra quốc âm rằng:

Lỗi lầm anh vẫn là anh
Nồi da nấu thịt sao đành hỡi em?


Nhắc đến nhà Tây Sơn chúng ta phải liên tưởng đến chén thuốc độc và ngọn lửa hồng của song trung Ngô Tùng Châu và Võ Tánh.

Truyền rằng: nghe tin Võ Tánh sắp tuẫn tiết, một người ái thiếp và một người lão bộc xin được chết theo. Võ công không cho, nhưng khi công đã lên giàn hỏa rồi, thì hai người tự trói mình vào cột lầu Bát giác, lửa cháy đều chết; đồng thời quan tổng binh là Nguyễn Thận ở ngoài vào trông thấy, cảm khích cũng nhảy vào lửa chết theo luôn.

Khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, lấy lầu Bát Giác làm nơi hương khói cho họ Võ, họ Ngô và làm lễ truy điệu trọng thể. Trong bài văn tế do Đặng Đức Siêu soạn, có câu:

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn lửa hồng mát mẻ tấm trung can
Chỉ nước non giã với cô thành, chén thuốc độc ngọt ngon mùi chính khí

(Câu này các sách chép có đôi chữ khác… ngọn quang minh un mát tấm trung can… Chén tân khổ nhắp ngon mùi… Song ở nơi miếu thì khắc như trên).

Câu này được trích làm câu đối thờ nơi miếu song trung.

Ngoài câu đó ra, nơi miếu còn nhiều câu đối bằng Hán tự rất hay, song câu sau đây được truyền tụng nhất:

Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ;
Trung thần bất nhị, nhị trung thần.


Võ Tánh, Ngô Tùng Châu vì nghĩa mà chết. Người lão bộc và quan tổng binh cũng vì nghĩa mà chết. Thế mà họ Võ họ Ngô có sử ghi chép, có đền thờ phụng, có văn thơ ca tụng, còn các người kia thì:

Lửng lơ bia miệng giấy trời,
Âm thầm bút tháp chép đời trung trinh.


Khách du qua đó, nhìn cảnh trước mắt, nghĩ chuyện nghìn xưa, lòng ai khỏi thê nhiên cảm khái.

Nhưng nếu chúng ta trèo lên hòn tháp Cánh Tiên trông ra bốn mặt, thâu nghìn dặm vào tấc gang, gần từ nội cỏ, xa đến chân trời, nào cao nào thấp, nào thanh nào u, thảy đều hợp thế hợp tình trình bày ra dưới tháp, thì lòng tự nhiên mở rộng và thân dường mọc cánh lên tiên.

Kìa ở phía đông thành, có ao Liệt Trì, tục gọi là bàu Sức, rộng đến vài ba chục mẫu, nước cạn nhưng trong. Xa xa có những vũng nước tròn và hẹp, đó là ao Lực Tụng; những đường nước cong và dài, đó là mương Thủy Câu. Bên ao gò đống chồng chất nửa ẩn nửa hiện, đó là dấu vết cửa đông mà sắc đá ong chưa hết đỏ.

Ở phía tây gần bên thành, gò Kim Sơn (tên do Nguyễn Nhạc đặt), từng vồng từng vồng nối tiếp như sóng cuộn.

Ở phía nam, núi Long Cốt nổi lên ba ngọn tròn trịa như ba khúc xương rồng uốn trong mây và dưới núi bóng xoài xanh làm nổi bật sắc sỏi đỏ.

Nơi góc đông bắc, hồ nước láng lai, hình trông như một chiếc khánh bạc. Hồ không bao giờ cạn và truyền rằng xưa kia có giống thủy tộc linh thương nương náu, những năm trời hạn, hễ nước hồ thấy trắng hoặc đỏ, thì nhất định một vài hôm sau có mưa to. Vì thế người địa phương gọi là Linh Hồ.

Ở phía bắc, xưa kia có nổng gò cao với mười ngọn tháp chơm chởm: gò Thập Tháp, mà nay là chùa Thập Tháp Di Đà với vườn xoài thâm u tĩnh mịch.

Đó là những cảnh gần.

Xa xa, cách thành chừng bốn năm cây số, về mặt đông, ngọn núi Mò O đứng ngước miệng lên lưng mây "Mắng Trời" và về mặt tây, sông Côn chia ra bốn nhánh chảy xuống đông bắc, chảy xuống đông nam… rồi hợp nơi đập Lý Nhơn, như những cánh tay của con bạch tuột ôm giữ tiếng mồi ngon là thành Đồ Bàn.

Ngoài xa nữa: phía đông, cửa biển Thị Nại và đầm Thị Nại nằm giữa những gành đá cửa sông mênh mông bát ngát, một bên thì bán đảo Phương Mai che chở ở mặt đông, một bên thì động Kỳ Mang yểm hộ ở mặt tây. Vị trí thật tốt. Còn ba mặt nam tây bắc, thì núi non trùng điệp dựng nên "tiểu vạn lý trường thành" hùng tráng hoành vỹ, mà đèo An Khê ở phía tây, đèo Thạch Đê ở phía bắc, đèo Cù Mông ở phía nam, là những cửa thành có thế "bách nhị".

Khí thế thật là hiểm và hùng.

Xem qua hình thế núi sông, chúng ta phải công nhận người Chiêm Thành đã khéo lựa nơi đóng đô. Và thành Đồ Bàn với đại trí như kia, đứng vững trong bao nhiêu thế kỷ là phải lắm.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top

Re: Thắng cảnh cổ tích

Postby turbo on Fri Apr 20, 2007 8:56 am

Thành Bình Định

Như trên đã nói, từ đời Lê đến đời Tây Sơn, lỵ sở của cấp chỉ huy tối cao ở địa phương đều đóng tại thành Đồ Bàn cũ. Đến năm Gia Long thứ 12 (1814) lỵ sở mới dời vào phía nam và thành Đồ Bàn bị triệt hạ để lấy vật liệu xây thành mới.

Thành tuy mới nhưng vẫn mang tên cũ đã đặt cho thành Quy Nhơn, tức thành Đồ Bàn cũ, từ năm Kỷ Mùi (1799) lúc Nguyễn Ánh chưa thống nhất lãnh thổ: Bình Định.

Thành Bình Định nằm trên hai thôn An Ngãi và Liêm Thực thuộc quận An Nhơn.

Địa cuộc của thành rất tốt: Dựa lưng vào núi Mò O ở mặt bắc, và lấy dãy Triều Sơn làm tiền án ở mặt nam. Thành xây trên một dãy gò thấp, nhưng đứng nơi thành ngó vào dãy Triều Sơn thì thấy núi hạ thấp xuống như đàn voi phủ phục trước người quản tượng. Hai nhánh nam phái và trung phái của sông Côn cùng các nhánh sông khác lại còn tạo thêm cho thành cái thể "tứ thủy triều qui" tức là bốn mặt nước về chầu. Cảnh trí thật đẹp, có thể gọi là đắc địa.

Vách thành xây toàn đá ong lấy ở thành cũ. Chu vi trên ba cây số, cao ba thước rưỡi tây và dày gần một thước trên đầu thành - còn dưới chân thành, phía trong đắp đất dày đến mươi thước và chạy lài lài lên đến đầu thành. Trông thật hoành tráng bốn mặt thành trổ bốn cửa, xây cổ lầu đồ sộ, kiên cố. Ngoài thành có hào sâu bao bọc. Để vô ra, trước cửa thành có xây cổng bằng đá, hình cầu vồng. Trong thành dựng hành cung, là nơi nhà vua nghỉ ngơi những khi hành du và các quan cùng những người có phẩm hàm từ cửu phẩm trở lên đến bái mạng trong những ngày khánh tiết; những dinh thự của các quan tỉnh tòa ngang dãy dọc, tráng lệ nguy nga.

Chung quanh các cung thự đều trồng xoài, bóng mát, trái ngọt. Quang cảnh thành có vẻ sầm tịch u nhàn.

Nhưng dưới bầu không khí yên tĩnh, hiền hậu, thành Bình Định đã chứng kiến nhiều sự kiện hùng tráng có, bi đát có, hài hước có:

Năm Ất Dậu (1885) nước mất, vua chạy, các sĩ phu trong nước hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, thành Bình Định đã anh dũng chống cự cùng quân xâm lăng mấy trận. Sau vì viên Tổng đốc là Lê Bá Thận phản bội, bắt bỏ ngục người cộng tác là chí sĩ Nguyễn Cung (án sát) rồi mở cửa thành đầu giặc. Nguyễn Cung xé vạt áo trắng, cắn tay lấy máu viết tâm thư gởi đến nghĩa quân ở An Khê, rồi tuẫn tiết ở trong ngục. Quân Pháp lấy được Bình Định rồi thì giao thành cho quan nam triều đóng cơ quan hành chánh tỉnh, còn chánh quyền thực dân thì đóng tại Quy Nhơn.

Năm Mậu Thân (1908), hưởng ứng phong trào "khất sưu" nam nghĩa, đồng bào Bình Định kéo nhau đến tỉnh kêu xin hai quan chánh phủ Pháp, Nam giảm bớt gánh nặng cho dân. Quan tỉnh đóng cửa thành không cho vào. Đồng bào phải tụ tập ở ngoài thành, bắt ống loa kêu gọi. Vâng lệnh quan trên, lính tỉnh ở trên mặt thành bắn vãi vào đám lương dân, lớp bị thương, lớp thiệt mạng.

Dưới triều Thành Thái (1889-1907), Nguyễn Thân ngồi ghế Tổng đốc Bình Định, máu người Bình Định đã chảy một cách oan uổng, không biết bao nhiêu lần. Có một chuyện ở Bình Định, ai ai cũng biết, là chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ.

Bá hộ Huệ tên Trịnh Đình Huệ, thôn Bá Canh, quận An Nhơn, là một nhà cự phú tỉnh Bình Định thời bấy giờ, người hào hiệp khí khái. Nguyễn Thân đến lỵ Bình Định, Bá hộ Huệ đến mừng một tấm biển cẩn xà cừ bốn chữ "Thiên Lý Nhân Lương" nghĩa là người hiền tiếng bay xa nghìn dặm. Quan Tổng đốc rất lấy làm vừa lòng, đem treo ngay giữa dinh. Một hôm, một nhà nho địa phương đem lễ vật đến mừng nữa. Quan Tổng đốc khoe tấm biển, nhà nho mỉm cười, quan hỏi không nói. Gạn hỏi năm ba phen, nhà nho khúm núm bẩm:

- Nói ra sợ cụ lớn bắt tội.

Nguyễn Thân nài ép mãi. Nhà nho ung dung thưa:

- Đây là một cách chơi chữ. Chữ Thiên chữ Lý ghép lại thành chữ Trọng. Chữ Lương và chữ Nhân ghép lại thành chữ Thực. Kẻ đi bức hoành này muốn chửi cụ lớn là vị quan "Trọng Thực", tức ham ăn.

Nguyễn Thân căm giận, cho trát đòi Bá hộ Huệ phải đến tỉnh hầu vào buổi chiều hôm sau.

Trời vừa chiều, thầy Bá đã đến dinh quan Tổng đốc, nhưng mãi đến nhá nhem tối, quan mới mời vào, và quở:

- Sao tới giờ này mới đến?

Thầy Bá nói lớn:

- Tôi chờ cụ Lớn, "đầu thân mút dậu", chớ đâu phải mới tới bây giờ.

Câu "đầu thân mút dậu" có hai nghĩa. Nghĩa đen là từ đầu giờ Thân, tức là vào khoảng ba bốn giờ chiều, đến cuối giờ Dậu, tức vào khoảng bảy giờ tối. Nghĩa bóng chửi cụ Lớn "Thân mút Dậu". Bởi vậy, Nguyễn Thân đã căm hờn lại căm thù thêm và quyết rửa hận cho kỳ được.

Nguyễn Thân bèn truyền hạ ngục Bá hộ Huệ. Mấy hôm sau mật sai người giữ ngục nửa đêm lén thả những phạm nhân trọng tội ra và xúi giục đi trốn, rồi chận bắt trở lại bảo khai rằng Bá hộ Huệ âm mưu… Trăm miệng một lời, Bá hộ Huệ bị xử tử. Hồn oan theo Nguyễn Thân đòi thường mạng suốt mấy mươi năm… và ở Bình Định hễ nhắc đến Nguyễn Thân thì nhắc đến chuyện giết Bá hộ Huệ.

Dưới triều Bảo Đại có một lúc quan Tổng đốc và quan Bố chánh đã làm cho nơi công đường nghiêm trang trở thành một nơi hý trường giúp vui cho thiên hạ. Đó là thời cụ Vương Tử Đại ngồi ghế Tổng đốc và cụ Nguyễn Bá Trác ngồi ghế Bố chánh. Cụ Thượng vốn là thông ngôn tòa sứ xuất thân, giỏi Pháp văn, thông tây học. Cụ Bố là một tay khoa bảng đã từng cùng các nhà chí sĩ đông du, sau về đầu đầu thú được miễn tội, ra giúp tạp chí Nam Phong, rồi được bổ đi làm quan lớn. Hai bên ghét nhau ra mặt. Cụ Bố thường lấy thơ văn làm binh khí để công kích cụ Thượng. Những tật xấu, việc xấu của cụ Thượng đều bị cụ Bố truyền làm thơ. Có mười bài tứ tuyệt gọi là Bình Thành thập thủ, được phổ biến tận đến hương thôn. Có hai bài được truyền tụng nhất là "Khán hổ bì" và "Ký cốc xa".

Khán hổ bì là xem da cọp.

Nguyên có một thiếu phụ tên Võ Thị Cú ở Phù Mỹ chê chồng, kiện xin ly dị. Người chồng không chịu. Vụ kiện kéo dài. Để cho được kiện, Võ Thị Cú lén vào dinh quan Tổng đốc để lo lót. Mong che mắt thế gian, Thị chờ đến đêm mới vào. Chẳng may quan Bố biết được, liền thẳng đến dinh Tổng đốc. Thấy bóng dáng quan Bố, Võ Thị Cú lật đật đứng dậy nép vào vách. Quan Bố bước vào chỉ mặt Võ Thị Cú thét mắng:

- Mi là con đàn bà kiện để chồng, sao đang đêm dám vào dinh cụ Lớn?

Đoạn thét lính bắt trói.

Quan Tổng đốc lính quýnh, không biết gỡ gạc thế nào. Nhân trên vách nơi Võ Thị đứng có treo tấm da cọp làm đồ trang trí, quan Tổng đốc liền nói:

- Con nhỏ dại quá. Nó vào thấy tấm da cọp, tò mò đứng xem. Xin quan lớn hỉ xả.

Quan Bố ra về làm bài thơ Khán hổ bì để ngạo quan Tổng đốc, rằng:

Bạc hạnh lang quân thiếp tảo tri.
Lang quân tư thiếp, thiếp tư ly.
Nhi kim dục ngoài ly lang kế,
Dạ nhập dinh môn khán hổ bì.


Nghĩa là:

Sớm hay chàng vốn bạc tình,
Chàng dù thương thiếp, thiếp đành phân ly.
Cung loan mong đứt giây tỳ,
Đang đêm vào "khán hổ bì" dinh quan!


Vương Tử Đại một khi đến Bình Định liền niêm yết cấm việc hối lộ. Một hôm quan cải trang làm thường dân mướn xe kéo đi chơi quanh ngoài thành, để dò xét dân tình. Quan hỏi người phu xe:

- Nghe đồn quan Tổng đốc đương kim thanh liêm chánh trực lắm phải không chú?

Không biết rằng người ngồi xe là quan Tổng đốc, người phu xe thật tình đáp:

- Dạ, phải, thanh liêm chánh trực. Nhưng ai muốn được việc thì đừng đi ngõ lớn mắc bảng cấm hối lộ, mà phải đi ngõ sau, tìm bà lớn là "hảo tai".

Quan liền ghi số xe, về dinh truyền bắt người phu xe tống ngục.

Trước vụ người phu xe, lại có chuyện dân làng Đông Lương huyện Phù Cát cũng vì chỉ trích quan tỉnh nên bị bắt giam cả làng. Vợ con đến khóc xin đêm ngày mà vẫn chưa được thả. Nhân hai vụ đó, quan Bố làm bài "Ký Cốc Xa" (xe kéo tay, chạy kêu cọt kẹt) rằng:

Sanh nhai ký cốc nhất xa hành.
Hưu huyết quan gia lãng phẩm bình.
Bất ký Đông Lương đương nhật sự,
Thê hiền nhi khốc đáo tàn canh.


Nghĩa là:

Làm ăn cút kít tay xe,
Miệng mồm khuyên hãy kiêng dè việc quan.
Đông Lương mang vạ cả làng,
Vợ con kêu khóc ngày tàn lại đêm.


Không rải truyền đơn, không đăng báo chí, thế mà mỗi khi thơ quan Bố vừa làm ra thì tất cả nhân viên ty, tào đều biết, rồi không mấy chốc bay khắp ra cả thành thị thôn quê. Quan Tổng đốc rất căm và để trả thù, quan làm một câu đối Nôm, cho người gởi đến quan Bố, rằng:

"Sóng Âu hải tràn ngang, tràn Hương Cảng, tràn Hoành tân, tràn Mã Lịp Nhĩ Sơn, coi như tuồng dạ sắt gan đồng, một mực giữ gìn dân với nước;

Gió Nam Phong thổi ngược, thổi hường lô, thổi binh bộ, thổi Bàn thành cụ Bố, quen những thói vào luồn ra cúi, đôi đường chen chúc lợi và danh".

Thật là "ăn miếng trả miếng". Miếng nào cũng cay.

Không phải thành Bình Định đều đón tiếp những vị quan như hai họ Nguyễn họ Vương.

Trước đó, vào khoảng 1925, 1926, thành Bình Định có quan Tổng đốc rất khí khái. Đó là tiến sĩ Nguyễn Đình Hiến.

Lúc bấy giờ chí sĩ Đồng Sỹ Bình bị bắt giam tại thành Bình Định. Quan Tổng đốc đối xử hết sức tử tế, cơm nước đều do người nhà của quan nấu dọn. Những lúc rỗi rảnh, ngoài giờ làm việc, quan thường đến nơi giam cầm hoặc vời chí sĩ lên tư dinh bàn luận văn chương và thế sự. Quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hiến phục chí sĩ Đồng Sỹ Bình chẳng những vì khí tiết mà còn vì văn chương, vì chí sĩ chẳng những giỏi bên Pháp văn (vì là một thư ký tòa sứ) mà lại rất giỏi bên Hán tự. Những tờ khai của chí sĩ toàn bằng Hán văn, mà hễ đặt bút là viết thao thao bất tuyệt. Quan Tổng đốc mỗi lần đọc lời khai là vỗ vế khen "hay!hay!" và có lần cao hứng cầm bút son khuyên đỏ cả tờ khai. Đến khi cơn hứng tàn, phải năn nỉ Đồng Sỹ Bình chép lại. Viên Công sứ Quy Nhơn biết được thái độ Nguyễn Đình Hiến đối với Đồng Sỹ Bình liền khởi mật thư khiển trách, song cụ Hiến coi như không. Sau Công sứ Pháp sợ quan Tổng đốc tìm cách tha nhà chí sĩ, bèn xin triều đình Huế rút cụ về kinh…

Đối với dân, cụ Nguyễn Đình Hiến cũng rất chiếu cố, những việc kiện cáo đều được xét xử công minh, việc an ninh trật tự đều được lưu ý. Cho nên cụ đi rồi, mà phần đông nhân sĩ Bình Định vẫn luôn luôn nhắc nhở.

Rồi, trước khi chiến tranh bùng nổ trên đất nước Việt Nam mấy năm, cơ quan hành chánh tỉnh dời xuống Quy Nhơn, giao thành Bình Định cho phủ lỵ An Nhơn đóng lỵ sở.

Cơ quan tỉnh dời xuống Quy Nhơn trong thời kỳ ông Nguyễn Hy, con ông Nguyễn Thân làm Tổng đốc Bình Định (khoảng Giáp Tuất-Ất Hợi, tức 1934, 1935).

Nghe đồn rằng: Khi ông Nguyễn Hy vừa đến nhậm sở thì liền mấy đêm nằm thấy một chiếc xe chở một đùm ruột lòng thòng đi qua lại trước mặt. Tỉnh dậy thì dường nghe tiếng kêu khóc ở quanh dinh, liền mời thầy bàn đến bàn. Thầy bàn giật mình, bẩm:

- Đây là hồn Bá hộ Huệ hiện về.

Đoạn kể lại câu chuyện Nguyễn Thân giết Bá hộ Huệ, và nói:

- Xe chở đùm ruột là chữ xa và chữ tâm. Hai chữ này ghép lại thành chữ Huệ. Như thế là Bá hộ Huệ hiện hồn về chực báo oán.

Nguyễn Hy sợ hãi không dám ở nơi lỵ sở, chiều chiều làm việc xong xuống ngủ ở Quy Nhơn, rồi nhân khí hậu ở thành Bình Định không tốt, thường sanh bệnh sốt rét, bèn mượn cớ xin triều đình Huế cho dời cơ quan xuống Quy Nhơn. Nghĩ rằng tòa sứ và tỉnh ở cạnh bên, thuận tiện cho công việc cai trị, nên triều đình Huế chấp thuận.

Từ ấy thành Bình Định trở thành phủ lỵ An Nhơn.

Và những khi khách du quan đi ngang qua phạm vi thành Bình Định, nhìn thấy lầu cửa đông cũ kỹ, không khỏi nhớ đến hai nhà thơ sanh trưởng ở Bình Định và đã dùng tòa lầu cửa đông làm lầu thơ: Chế Lan Viên và Yến Lan.

Chế Lan Viên với tập Điêu tàn làm lúc mới 17 tuổi (1937) và tập Vàng Sao xuất bản năm 1942, đã làm cho làng văn thơ Việt Nam lưu tâm đến Bình Định.

Và Yến Lan, một đợt sóng thứ hai làm vang dội tên Bình Định bằng bài thơ Bình Định sau đây:

Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền!
Tịch dương liễu không biết mình đang biếc
Tương tư trời, tương tư nhạc triền miên…
Mây nổi đó nhưng hồn chừng viễn xứ,
Nguyệt cô liêu trắng mộng hồ xa nao?
Xe lỗi hẹn với người trong lữ thứ,
Trường hận thuyền muôn dặm cũng hư hao.
Ôi Bình Định hương phong chừng cách biệt,
Nhưng bâng khuâng trong bất hạnh sương hoa,
Nhà ngơ ngẩn những tường vôi keo kiết,
Nam quách sầu, đông phố quạnh, tây môn xa…!
Cây lặng lẽ vui làm bầy hải đảo,
Thuyền bồ câu nghiêm buồm trắng trôi ven.
Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước đạo,
Rượu ân tình Bình Định xứ lên men.
Ôi Bình Định tự thành cao trao gửi,
Buổi xế tà qua mấy cửa song xanh:
Nơi đã đọng những vũng đàn lạnh đợi
Của trăng gầy, gió lụy xuống mong manh.
Nhà thiêm thiếp khổ trong quầng nắng nhạt
Nhớ thương từ vườn chuối nuối vương đưa
Giấc Trang Tử đêm vầy theo hội hát,
Cuối đôi làng xam xám dệt tơ mưa.
Đây tôi sống trong thanh nghiêm thánh thất:
Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.
Lan can đỏ xuống lần từng bậc bậc,
Lòng cuộn dần bậc bậc khói hương xây.
Hồn tôi loãng trên bệ vàng thếp chảy,
Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân.
Tám phương bạn chợp hàng mi mộng thấy
Thái bình trang vàng rộn lá thu phân.
Kiếp tòng bá có xanh vì xứ sở,
Chớ quăng mình thêm nức nở hồn tôi.
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi.
Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc?
Em nằm thương xanh biếc của trời buồn!
Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt,
Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.
Hoa tư tưởng phân thân chiều gió trải,
Trời Giang Nam hồ hải nói trong tâm.
Ôi Bình Định ngươi nằm trong mãi mãi…
Đĩa dầu vơi tim cháy ngọn âm âm…


Với những áng văn thơ bất hủ, thành Bình Định tuy mất, nhưng hình ảnh và tiếng tăm vẫn còn trong mãi mãi của thời gian.
User avatar
turbo
Đội phó
Đội phó
 
Posts: 1862
Joined: Fri Apr 02, 2004 2:09 am
Location: Bình Định
Blog: View Blog (3)
Top


Post a reply

Smilies
em22 em36 em26 em39 em29 em35 em31 em34 em32 :D :) ;) :( :o :shock: :? 8-) :lol: :x :P :oops: :cry: :evil: :twisted: :roll: :!: :?: :idea: :arrow: :| :mrgreen: :geek: :ugeek:
Quote Selected
 

Return to Nước non Bình Định (Quách Tấn)

Who is online

Users browsing this forum: Alexa [Bot] and 0 guests